Giá heo hơi tiếp tục tăng ngày cuối tuần?

Dự báo giá heo hơi ngày 5/7 tiếp tục tăng từ 1.000-3.000 đồng/kg trên cả nước do ảnh hưởng của dịch tả heo Châu Phi.

Giá heo hơi hôm nay (4/7) ghi nhận tăng mạnh ở khu vực miền Trung và giảm nhẹ ở phía Bắc, dao động quanh ngưỡng 90.000 đồng/kg.

Thống kê cho thấy, tổng số heo của cả nước tháng 6 giảm khoảng 7,5% so với tháng 6/2019; sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt trên 1,6 triệu tấn, giảm 8,8% so với cùng kỳ năm 2019, theo báo Đầu Tư. 

Hiện tại, giá heo tại Thái Lan đang tăng bởi yếu tố tâm lý. Nhiều người chăn nuôi ở Thái Lan đã nâng giá bán khi Việt Nam tham gia nhập khẩu heo từ quốc gia này.  

Do tăng giá heo, tăng giá phí, nên giá heo hơi Thái Lan khi nhập về Việt Nam được bán với giá 81.000- 82.000 đồng/kg, chênh rất ít với giá heo nuôi trong nước (có nơi thấp nhất chỉ 83.000 đồng/kg).

Hơn nữa, dịch tả heo châu Phi đang diễn biến phức tạp tại một số địa phương miền Bắc, có khả năng tiếp tục khiến giá heo hơi tăng trong thời gian tới.

Giá heo hơi miền Bắc : Dự báo tăng trở lại. Giá heo tăng 2.000 đồng lên mức 95.000 đồng/kg tại Thái Bình, Ninh Bình. Giá heo tăng 1.000 đồng lên mức 92.000 đồng/kg tại Yên Bái, Lào Cai, Nam Định, Phú Thọ, Hà Nam. Các tỉnh, thành còn lại giá heo chủ yếu dao động ở mức 90.000 - 91.000 đồng/kg.

Giá heo hơi miền Trung  và Tây nguyên: Dự báo tiếp tục tăng nhẹ. Giá heo tăng 1.000 đồng lên mức 83.000 đồng/kg tại Đắc Lắc, Ninh Thuận, Bình Định, Quảng Bình. Các tỉnh, thành còn lại giá heo chủ yếu dao động ở mức 85.000 - 88.000 đồng/kg.

Giá heo hơi miền Nam : Dự báo không có biến động mạnh. Giá heo cao nhất ở mức 88.000 đồng/kg tại Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Long An. Giá heo thấp nhất ở mức 83.000 đồng/kg tại Bình Dương, Bình Phước, TP.HCM, Tây Ninh, Vũng Tàu. Các tỉnh, thành còn lại giá heo chủ yếu dao động ở mức 83.000 - 85.000 đồng/kg.

BẢNG GIÁ HEO HƠI NGÀY 5/7/2020
Tỉnh/thành Khoảng giá (đồng/kg) Tăng (+)/giảm (-) đồng/kg
Hà Nội 90.000-91.000 +2.000
Hải Dương 89.000-90;000 Giữ nguyên
Thái Bình 89.000-90.000 +3.000
 Bắc Ninh 88.000-89.000 Giữ nguyên
Hà Nam 89.000-90.000 +1.000
Hưng Yên 90.000-91.000 +2.000
Nam Định 90.000-91.000 Giữ nguyên
Ninh Bình 90.000-91.000 +3.000
Hải Phòng 89.000-90.000 Giữ nguyên
Quảng Ninh 90.000-91.000 Giữ nguyên
Lào Cai 90.000-92.000 Giữ nguyên
Tuyên Quang 90.000-91.0000 +3.000
Cao Bằng 90.000-91.000 Giữ nguyên
Bắc Kạn 89.000-90.000 Giữ nguyên
Phú Thọ 90.000-91.000 +1.000
Thái Nguyên 90.000-91.00 +1.000
Bắc Giang 90.000-91.000 Giữ nguyên
Vĩnh Phúc 90.000-91.000 +2.000
 Lạng Sơn 90.000-91.000 Giữ nguyên
Lai Châu 89.000-90.000 Giữ nguyên
Thanh Hóa 86.000-87.000 Giữ nguyên
Nghệ An 87.000-88.000 Giữ nguyên
Hà Tĩnh 84.000-85.000 Giữ nguyên
Quảng Bình 80.000-82.000 Giữ nguyên
Quảng Trị 80.000-81.000 +1.000
TT-Huế 81.000-82.000 +1.000
Quảng Nam 82.000-83.000 +1.000
Quảng Ngãi 80.000-81.000 +1.000
Bình Định 81.000-82.000 +1.000
Phú Yên 81.000-82.000 Giữ nguyên
Ninh Thuận 81.000-82.000 +1.000
Khánh Hòa 84.000-85.000 +1.000
Bình Thuận 80.000-81.000 +1.000
Đắk Lắk 81.000-82.000 Giữ nguyên
Đắk Nông 80.000-81.000 Giữ nguyên
Lâm Đồng 84.000-85.000 Giữ nguyên
Gia Lai 84.000-85.000 Giữ nguyên
Đồng Nai 84.000-85.000 Giữ nguyên
TP.HCM 82.000-83.000 +1.000
Bình Dương 82.000-83.000 +1.000
Bình Phước 83.000-84.000 Giữ nguyên
BR-VT 83.000-84.000 Giữ nguyên
Long An 85.000-86.000 +3.000
Tiền Giang 84.000-85.000 Giữ nguyên
Bạc Liêu  84.000-85.000 Giữ nguyên
Bến Tre 84.000-85.000 Giữ nguyên
Trà Vinh 84.000-85.000 Giữ nguyên
Cần Thơ 84.000-85.000 +2.000
Hậu Giang 85.000-86.000 Giữ nguyên
Cà Mau 85.000-86.000 Giữ nguyên
Vĩnh Long 84.000-85.000 +1.000
An Giang 85.000-86.000 Giữ nguyên
Kiêng Giang 85.000-86.000 Giữ nguyên
Sóc Trăng 83.000-85.000 Giữ nguyên
Đồng Tháp 84.000-85.000 Giữ nguyên
Tây Ninh 82.000-83.000 +1.000

PHƯỢNG LÊ

Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ cán bộ Trung ương