Giá cà phê hôm nay
Giá cà phê thế giới nhuộm đỏ cả hai sàn phái sinh, chịu áp lực giảm bởi đồng USD tăng giá. USDX đã tăng lên mức cao mới 6 tuần đã gây áp lực thanh lý trên các thị trường cà phê kỳ hạn.
Lo ngại thiếu hụt nguồn cung khi báo cáo tồn kho ICE – New York không được đăng ký bổ sung và ICE – Lodon vẫn đứng ở mức thấp nhất kể từ năm 2016, đã hỗ trợ đầu cơ đẩy giá để bán hàng giao ngay trên sàn.
Tính đến ngày 24/2, tồn kho robusta được sàn London chứng nhận và theo dõi cấp phát đã tăng 5.980 tấn, tức tăng 9,77 % so với một tuần trước đó, lên đăng ký ở mức 67.180 tấn (tương đương 1.119.667 bao, bao 60 kg).
Tồn kho đạt chuẩn sàn ICE New York tiếp tục ghi nhận giảm xuống mức thấp nhất trong 7 tuần còn 800.137 bao, tính đến 24/2. Thông tin trên đã kìm hãm đà giảm giá của cà phê arabica.
Theo phân tích kỹ thuật, giá cà phê robusta đang trong kênh xu hướng đi ngang tích lũy dù các chỉ số kỹ thuật cho tín hiệu động lượng tăng vẫn còn. Giới phân tích dự kiến, trong ngắn hạn, giá cà phê robusta còn giằng co trong biên độ 2080-2200 để kiếm lực tăng dò lại vùng kháng cự 2230 – 2250.
Trong khi đó, đối với cà phê arabica, các chỉ số kỹ thuật đang cho tín hiệu trung tín, xu hướng giá chưa xác định rõ nét khi giá arabica đã có các nhịp điều chỉnh giảm sau chuỗi ngày tăng nóng trước đó.
Chốt phiên giao dịch đầu tuần (ngày 27/2), giá cà phê robusta trên sàn ICE Futures Europe London giảm mạnh, kỳ hạn giao hàng tháng 5/2023 giảm 25 USD (1,16%), giao dịch tại 2.126 USD/tấn. Trong khi, kỳ hạn giao tháng 7/2023 giảm 23 USD (1,08%), giao dịch tại 2.114 USD/tấn. Khối lượng giao dịch trung bình thấp.
Giá cà phê arabica trên sàn ICE Futures US New York cũng giảm. Kỳ hạn giao tháng 5/2023 giảm 1,55 Cent/lb (0,83%), giao dịch tại 186,15 Cent/lb. Trong khi, kỳ hạn giao tháng 7/2023 giảm 1,35 Cent/lb (0,73%), giao dịch tại 184,65 Cent/lb. Khối lượng giao dịch trung bình.

Cà phê dự kiến sẽ giao dịch ở mức 185,12 USd/Lbs vào cuối quý này, theo các mô hình vĩ mô toàn cầu của Trading Economics và kỳ vọng của các nhà phân tích.
Trog khi đó, giá cà phê trong nước hôm nay ngày 28/2 tăng nhẹ 100 đồng/kg, hiện dao động từ 46.900 – 47.400 đồng/kg.
Cụ thể, giá cà phê tại tỉnh Lâm Đồng: 46.800 – 46.900 đồng/kg, Gia Lai, tỉnh Kon Tum: 47.300 đồng/kg, Đắk Lắk: 47.400 đồng/kg, Đắk Nông: 47.300 đồng/kg.
Số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, tháng 1/2023, xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Italy đạt 17,27 nghìn tấn, trị giá 35,71 triệu USD.
Con số này tăng 78,9% về lượng và tăng 81,5% về trị giá so với tháng 12/2022, so với tháng 1/2022 tăng 30,5% về lượng và tăng 27,1% về trị giá.
Tháng 1/2023, giá xuất khẩu bình quân cà phê của Việt Nam sang thị trường Italy đạt mức 2.067 USD/tấn, tăng 1,4% so với tháng 12/2022, nhưng giảm 2,6% so với tháng 1/2022.
Năm 2022, Việt Nam xuất khẩu các chủng loại cà phê robusta, arabica và cà phê chế biến sang thị trường Italy.
Xuất khẩu cà phê robusta sang thị trường Italy trong năm 2022 đạt 135,61 nghìn tấn, trị giá 277,85 triệu USD, tăng 8,0% về lượng và tăng 28,7% về trị giá so với năm 2021.
Tương tự, xuất khẩu cà phê arabica đạt 3,33 nghìn tấn, trị giá 14,38 triệu USD, tăng 110,5% về lượng và tăng 227,9% về trị giá.
Ngược lại, xuất khẩu cà phê chế biến của Việt Nam sang Italy giảm 12% so với năm 2021, đạt 3,37 triệu USD.
Giá tiêu hôm nay
Giá tiêu hôm nay 28/2 điều chỉnh giảm 500 đồng/kg tại các vùng trọng điểm. Hiện giá tiêu nội địa duy trì ổn định quanh mốc 64.000 – 66.000 đồng/kg.
Hiện giá tiêu trong nước dao động quanh mốc từ 64.000 – 66.500 đồng/kg. Cụ thể, giá tiêu hôm nay tại Gia Lai đang được thương lái thu mua ở mức 64.000 đồng/kg. Tại tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, giá tiêu hôm nay được thu mua với mức 65.000 đồng/kg.
Tương tự, tại khu vực Đông Nam bộ, giá tiêu hôm nay cũng giảm 500 đồng/kg. Tại Bà Rịa Vũng Tàu, giá tiêu ở mốc 66.500 đồng/kg. Tại Bình Phước, Đồng Nai giá tiêu hôm nay được thu mua với mức 65.500 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá tiêu hôm nay đi ngang so với hôm qua. Cụ thể, giá tiêu đen Lampung tại Indonesia giữ ở mức 3.606 USD/tấn. Còn giá hạt tiêu trắng Muntok của quốc gia này neo ở mức 6.079 USD/tấn.
Giá tiêu đen Kuching ASTA của Malaysia duy trì ổn định ở mức 4.900 USD/tấn; còn hạt tiêu trắng ASTA của quốc gia này vẫn có giá 7.300 USD/tấn.
Đối với thị trường Brazil, giá hạt tiêu đen ASTA 570 đang duy trì ở mức 2.950 USD/tấn.
Còn tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500g/l và 550 g/l neo ở mức 3.325 - 3.375 USD/tấn. Và giá tiêu trắng ở mức 4.880 USD/tấn.
Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) đánh giá, thị trường tăng mạnh ngay cả trong giai đoạn thu hoạch một phần là do yếu tố lạm phát đang tăng cao, và sức mua hồi phục ở Trung Quốc.
Trong bối cảnh lãi suất vốn vay thương mại vẫn cao khiến nhà kinh doanh hồ tiêu không dự trữ dài hạn như các năm trước. Hiện nông dân đang có tâm lý găm hàng, dự trữ nhiều.
Dự báo, giá tiêu còn tăng tiếp khi sản lượng vụ mới giảm. Lời khuyên lúc này là cần tiền chi tiêu tới đâu thì bán tới đó. Không bán theo tin đồn và hạn chế vay mượn để tham gia đầu cơ.
Với sự khởi sắc của thị trường, nông dân các vùng sản xuất tiêu trọng điểm của tỉnh bước vào vụ thu hoạch mới với nhiều kỳ vọng về giá.
Việc giá hồ tiêu liên tục giảm trong năm 2022 đã tác động không nhỏ đến việc đầu tư, chăm sóc của người nông dân đối với loại cây này. Đồng thời, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, sâu bệnh, giá vật tư, phân, thuốc, nhân công vẫn ở mức cao cũng tác động tới lợi nhuận người nông dân.
Nổi bật tuần vừa qua vẫn là những thông tin kém khả quan về sản lượng vụ mới tại các vùng thu hoạch chính của Việt Nam. Bên cạnh đó, Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế đã điều chỉnh giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam.
Sau quãng thời gian thị trường trong nước tăng mạnh, đến bây giờ IPC mới điều chỉnh giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam. Điều này cho thấy hoạt động xuất khẩu đang có những tín hiệu tốt.
Các địa phương trong nước đang bước vào thu hoạch vụ tiêu 2023 và dự kiến kết thúc vào cuối tháng 4, với sản lượng ước khoảng 180.000 - 185.000 tấn, tăng 5% so với năm 2022. Con số trên là ước đoán trước vụ thu hoạch khi thực tế vụ thu hoạch đang không thuận lợi
Một nguồn tin khác, tại tỉnh Kiên Giang, năng suất hồ tiêu bình quân hiện nay chỉ đạt khoảng 1,8 - 2 tấn/ha, giảm gần một nửa.
Giá cao su hôm nay
Giá cao su hôm nay tiếp tục giảm mạnh toàn thị trường, tại Sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE) giá cao su giảm ở tất cả các kỳ hạn và tại Sàn Tocom (Tokyo - Nhật Bản) giá cao su cũng giảm ở toàn bộ các kỳ hạn...
Tại Sở giao dịch hàng hóa Tokyo (Tocom), giá cao su kỳ hạn giao tháng 3/2023 ghi nhận mức 207,6 yen/kg, giảm 0,57%, giảm 1,2 yen/kg. Kỳ hạn cao su tháng 4/2023 giảm; kỳ hạn cao su tháng 5/2023; kỳ hạn tháng 6/2023 và cao su kỳ hạn tháng 7/2023 đều giảm nhẹ gần 1%.
Trên Sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE), giá cao su RSS3 giao kỳ hạn tháng 3/2023 ở mức 12.335 nhân dân tệ/tấn, giảm 1,04%, giảm 130 nhân dân tệ/tấn.
Giá cao su Thượng Hải giảm ở kỳ hạn tháng 4/2023; các kỳ hạn cao su tháng 5/2023 và tháng 6/2023 và cao su kỳ hạn tháng 7/2023 đều giảm nhẹ.

Cao su dự kiến sẽ được giao dịch ở mức 135,25 US Cents/kg vào cuối quý này, theo các mô hình vĩ mô toàn cầu của Trading Economics và kỳ vọng của các nhà phân tích.
Tháng đầu năm 2023, xuất khẩu cao su sang Hoa Kỳ giảm mạnh, song các chuyên gia cho rằng vẫn có tín hiệu lạc quan xuất khẩu sang thị trường này.
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho biết, tháng 1/2023, Việt Nam xuất khẩu được 1,83 nghìn tấn cao su sang Hoa Kỳ, trị giá 2,24 triệu USD, giảm 45,8% về lượng và giảm 50% về trị giá so với tháng 12/2022; so với tháng 1/2022 giảm 45,4% về lượng và giảm 60,1% về trị giá.
Giá bình quân xuất khẩu cao su của Việt Nam sang thị trường này ở mức 1.227 USD/ tấn, giảm 7,9% so với tháng 12/2022 và giảm 26,9% so với tháng 1/2022.
Năm 2022, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ chủ yếu là cao su tự nhiên. Trong đó, chủng loại SVR 3L được xuất khẩu sang Hoa Kỳ nhiều nhất, chiếm 33,18% tổng lượng cao su xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong năm 2022.
Đứng thứ 2 là chủng loại Latex chiếm 24,96% và thứ ba là SVR CV60 chiếm 22% tổng lượng cao su xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong năm 2022. Các chủng loại cao xu xuất khẩu sang Hoa Kỳ phần lớn đều sụt giảm trong năm 2022.
Theo số liệu thống kê của Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ, năm 2022, Hoa Kỳ nhập khẩu 2,03 triệu tấn cao su (HS: 4001, 4002, 4003, 4005), trị giá 4,7 tỷ USD, tăng 4,9% về lượng và tăng 16,4% về trị giá so với năm 2021. Trong đó, Indonexia, Thái Lan, Canada, Hàn Quốc và Bờ Biển Ngà là 5 thị trường lớn nhất cung cấp cao su cho Hoa Kỳ. Trừ Indonesia, nhập khẩu cao su của Hoa Kỳ từ các thị trường này đều tăng so với năm 2021.
Trong năm 2022, Việt Nam là thị trường cung cấp cao su lớn thứ 13 cho Hoa Kỳ với 34,12 nghìn tấn, trị giá 59,18 triệu USD, giảm 21% về lượng và giảm 21,9% về trị giá so với năm 2021, thị phần cao su Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu cao su của Hoa Kỳ chiếm 1,68%, giảm so với mức 2,23% của năm 2021.
Năm 2022, xuất khẩu cao su của Việt Nam sang Hoa Kỳ chịu cạnh tranh từ nhiều thị trường, như từ Indonesia (chiếm 26,18% tổng lượng nhập khẩu cao su của Hoa Kỳ) và Thái Lan (chiếm 14,78% tổng lượng nhập khẩu cao su của Hoa Kỳ). Đặc biệt là thị phần cao su của Thái Lan có xu hướng tăng so với năm 2021.
Mặc dù vậy, theo các chuyên gia xuất khẩu cao su vẫn đang trong xu hướng tích cực. Cao su Việt Nam đang ngày càng thâm nhập sâu hơn vào thị trường Hoa Kỳ. Thời gian tới, giá nhiên liệu và nhu cầu chung về năng lượng tại Hoa Kỳ dự kiến sẽ giảm và làm giảm áp lực đối với giá cả, đặc biệt là chi phí vận tải. Đây là tín hiệu lạc quan cho việc xuất khẩu cao su của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong các tháng tới.







Cùng chuyên mục
Chấm dứt hoạt động Chi nhánh Trung tâm Tâm lý Giáo dục Ngọc Bích
Longevity Medical tổ chức sự kiện gặp gỡ PGS.TS.BS Phan Toàn Thắng: Lan tỏa giá trị y học tái tạo vì sức khỏe bền vững
Thanh tra ‘gõ cửa’ điểm mặt loạt vi phạm, PNJ nói gì?
Có nên mua dự án Narra Residences tại khu đô thị Thủ Thiêm?
Tăng sức mua cho thị trường nội địa sẽ giúp Việt Nam ứng phó thách thức thuế quan?
Urenco 11 - Tiên phong trong hoạt động xử lý môi trường