Xuất khẩu tiêu được dự báo tăng trở lại khi Trung Quốc điều chỉnh chính sách chống dịch Covid-19

Thị trường nông sản hôm nay 1/12 ghi nhận giá cà phê tăng nhẹ, trong khi đó với việc Trung Quốc nới lỏng chính sách kiểm soát Covid-19 nhiều chuyên gia dự báo xuất khẩu tiêu Việt Nam sang thị trường này có thể tăng trở lại.

Giá cà phê trong nước phổ biến ở mức giá 41.000 đồng/kg

Giá cà phê trong nước hôm nay 1/12 dao động trong khoảng 40.500 - 41.000 đồng/kg. 

Cụ thể, tại tỉnh Lâm Đồng: 40.500 đồng/kg; Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum: 41.000 đồng/kg. Thị trường cà phê trong nước tăng 300 đồng/kg tại các địa phương trồng cà phê trọng điểm. 

Trên thị trường thế giới, ết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá cà phê Robusta tại London giao tháng 1/2023 tăng 28 USD/tấn, gia dịch ở mức 1.887 USD/tấn; kỳ hạn giao tháng 3/2023 tăng 16 USD/tấn, giao dịch ở mức 1.849 USD/tấn.

 Trong khi đó trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 12/2022 tăng 1US cent/lb; giao dịch ở mức 169,9 US cent/lb; giao tháng 3/2023 tăng 1,05 cent/lb, giao dịch ở mức 170,15 US cent/lb.

Thị trường nông sản đầu tháng 12 không có nhiều biến động - Ảnh 1.

à phê dự kiến sẽ giao dịch ở mức 157,54 USd/Lbs vào cuối quý này.

Tổng cục Thống kê Việt Nam ước báo xuất khẩu cà phê trong tháng 11 đạt khoảng 110.000 tấn, tăng 2,60% so với cùng kỳ năm trước. Do đó, lũy kế xuất khẩu cà phê trong 11 tháng đầu năm dương lịch hiện tại sẽ đạt tổng cộng 1.535.000 tấn (khoảng 25,58 triệu bao), tăng 10,21% so với cùng kỳ năm trước.

Tính đến ngày 20/11, 38% diện tích trồng cà-phê tại Việt Nam đã được thu hoạch. Lượng cà phê thu hoạch càng lớn, nhu cầu đẩy mạnh xuất khẩu càng gia tăng do nông dân cần kho để chứa cà phê của vụ mới.

Bộ nông nghiệp Mỹ đã điều chỉnh sản lượng dự báo cà phê Việt Nam giảm 2,2% xuống mức 30.22 triệu bao, trong đó cà phê Robusta giảm 4,2%, còn 29.20 triệu bao. Trong khi đó, tồn kho cà phê đạt chuẩn sàn ICE London cũng được ghi nhận giảm xuống mức thấp nhất từ 4 năm nay.

Tuy nhiên, dưới áp lực từ việc nhu cầu tiêu thụ yếu do lo ngại suy thoái kinh tế, giá cà phê thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng được dự báo có xu hướng giảm.

Đà giảm của cà phê sẽ được điều chỉnh chậm lại do nguồn cung không thực sự tích cực như những gì thị trường đã và đang kỳ vọng.

9 tháng đầu năm 2022, Trung Quốc nhập khẩu cà phê từ khoảng 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó các nguồn cung cà phê chính là Ethiopia, Colombia, Brazil, Italy, Việt Nam.

Thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng trị giá nhập khẩu của Trung Quốc giảm từ 11,9% trong 9 tháng đầu năm 2021 xuống 7,3% thị phần trong 9 tháng năm 2022.

Trong các thị trường chính, Trung Quốc có xu hướng tăng nhập khẩu cà phê ở các thị trường như Ethiopia, Colombia, Brazil, Italy và giảm ở Việt Nam.

Giá tiêu xuất khẩu Việt Nam có thể cán mốc 1 tỷ USD trong năm nay

Giá tiêu trong nước hôm nay 1/12 dao động trong khoảng 60.000 - 63.000 đồng/kg. 

Cụ thể, tại tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông: 61.000 đồng/kg, Gia Lai: 60.000 đồng/kg, Đồng Nai: 60.000 đồng/kg, Bà Rịa - Vũng Tàu: 63.000 đồng/kg, Bình Phước: 62.000 đồng/kg. 

Theo Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết giá tiêu đen Lampung (Indonesia) giảm 0,03% chốt tại 3.776 USD/tấn; giá tiêu đen Brazil ASTA 570 giữ nguyên mức 2.625 USD/tấn; giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA giữ vững mức 5.100 USD/tấn. Giá tiêu trắng Muntok giảm xuống 5.947 USD/tấn sau khi mất 0,03%; giá tiêu trắng Malaysia ASTA vẫn ở 7.300 USD/tấn.

Tại Việt Nam, giá tiêu đen giao dịch ở 3.150 - 3.250 USD/tấn với loại 500 g/l và 550g/l, tăng 50 USD/tấn; giá tiêu trắng ở mức 4.600 USD/tấn. Trong mấy ngày qua, IPC liên tục hạ giá tiêu xuất khẩu của Indonesia.

Thị trường nông sản đầu tháng 12 không có nhiều biến động - Ảnh 2.

Xuất khẩu hồ tiêu trong tháng 10 đạt 17.596 tấn, trị giá 66,6 triệu USD, tăng 26,9% về lượng và tăng 17,2% về giá trị so với tháng trước. Với việc Trung Quốc nới lỏng chính sách Zerro COVID và tăng mua trở lại, xuất khẩu tiêu được kỳ vọng khởi sắc hơn trong hai tháng cuối năm và có thể cán mốc 1 tỷ USD trong năm nay.

Theo số liệu của Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, xuất khẩu hồ tiêu trong tháng 10 đạt 17.596 tấn, trị giá 66,6 triệu USD, tăng 26,9% (tăng 3.732 tấn) về lượng và tăng 17,2% về trị giá so với tháng trước; đồng thời so với cùng kỳ năm ngoái tăng 5,6% về lượng nhưng giảm 7,7% về trị giá.

Lũy kế đến hết tháng 10, xuất khẩu tiêu của nước ta đạt tổng cộng 192.076 tấn, trị giá 836,9 triệu USD, giảm 16,3% (tương ứng 37.509 tấn) về lượng nhưng tăng 5,79% (45,8 triệu USD) về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Với việc Trung Quốc nới lỏng chính sách Zerro COVID và tăng mua trở lại, xuất khẩu tiêu được kỳ vọng khởi sắc hơn trong hai tháng cuối năm và có thể cán mốc 1 tỷ USD trong năm nay.

Giá cao su biến động trái chiều

Giá cao su hôm nay 1/12 giữ đà tăng nhẹ tại Sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE), trong khi tại Sàn Tocom (Tokyo - Nhật Bản), giá mặt hàng này quay đầu giảm ở một số kỳ hạn.

Tại Sở giao dịch hàng hóa Tokyo (Tocom), giá cao su kỳ hạn giao tháng 1/2023 ghi nhận mức 213,5 JPY/kg, giảm 2,5 JPY/kg; kỳ hạn tháng 2/2023, tháng 3/2023 cũng ghi nhận giảm dưới 1%; kỳ hạn tháng 12/2022, kỳ hạn tháng 4/2023 tăng dưới 1%.

Trên Sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE), giá cao su RSS3 giao kỳ hạn tháng 1/2023 giao dịch ở mức 12.795 CNYệ/tấn, tăng 0,87%, tăng 110 CNY/tấn.

Giá cao su Thượng Hải hôm nay vẫn giữ đà tăng ở các kỳ hạn tháng 3/2023, tháng 4/2023, tháng 5/2023, tháng 6/2023, với mức tăng gần 1%.

Thị trường nông sản đầu tháng 12 không có nhiều biến động - Ảnh 3.

Cao su dự kiến sẽ được giao dịch ở mức 124,06 US Cents/kg vào cuối quý này.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dẫn số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho biết, 10 tháng năm 2022, xuất khẩu cao su sang thị trường Trung Quốc đạt gần 1,2 triệu tấn, trị giá hơn 1,8 tỷ USD, tăng 11,5% về lượng và tăng 6,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021; giá xuất khẩu bình quân đạt 1.551 USD/tấn, giảm 4,2% so với cùng kỳ năm 2021.

Trong 10 tháng năm 2022, các chủng loại cao su của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là hỗn hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp (HS: 400280) và cao su tự nhiên.

Trong đó, chủng loại hỗn hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp được xuất khẩu sang Trung Quốc nhiều nhất, chiếm hơn 80% tổng lượng cao su xuất khẩu sang Trung Quốc. Đứng thứ hai là chủng loại Latex chiếm 13,6% và thứ ba là SVR 10 chiếm 1,8% tổng lượng cao su xuất khẩu sang Trung Quốc trong 10 tháng năm 2022.

Trong 10 tháng năm 2022, giá xuất khẩu bình quân hầu hết các chủng loại cao su sang Trung Quốc đều giảm so với cùng kỳ năm 2021 như hỗn hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp giảm 1,8%; Latex giảm hơn 3%; SVR 10 giảm 3,1%; SVR 3L giảm 6%; RSS3 giảm hơn 9%; SVR CV60 giảm 6,3%...

Theo Cục Xuất nhập khẩu, thời gian qua, xuất khẩu cao su của Việt Nam sang Trung Quốc gặp khó khăn do nước này phải đối mặt với khủng hoảng bất động sản, các đợt nắng nóng làm gián đoạn hoạt động sản xuất, khiến giá cao su xuất khẩu sang nước này giảm.

Bên cạnh đó, các biện pháp hạn chế để phòng chống Covid-19 cũng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất công nghiệp và tiêu thụ. Thời gian tới, dự đoán giá cao su sẽ phục hồi trở lại sau khi Chính phủ Trung Quốc cam kết đưa ra các chính sách theo từng giai đoạn để ổn định kinh tế và phục hồi tiêu dùng.

HÀ MY