3 kịch bản của Việt Nam năm 2021, tăng trưởng GDP cao nhất có thể đạt 6,9%

Theo kịch bản cơ sở thì tăng trưởng GDP năm 2021 của Việt Nam sẽ đạt khoảng 5,49%. Nếu theo kịch bản cao sẽ đạt đến 6,9% còn thấp nhất là 3,48%.

Sáng 19/1, Viện Kinh tế Việt Nam công bố “Báo cáo Kinh tế Việt Nam 2020: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo”.

Theo Báo cáo, tác động từ cú sốc COVID-19 lên nền kinh tế Việt Nam nặng nề hơn rất nhiều so với các cú sốc từ cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á năm 1997 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Hai cú sốc này làm cho tăng trưởng ở mức thấp nhất là 4,77% năm 1999 và 5,40% năm 2009, nhưng vẫn còn cao hơn so với năm 2020  chỉ đạt  2,91%. Tuy nhiên, cú sốc COVID-19 có thể mang tính tạm thời, sẽ không kéo dài như hai cú sốc tài chính năm 1997 và 2008.

Theo Viện Kinh tế Việt Nam, tốc độ tăng trưởng kinh tế cả năm 2020 thấp nhất kể từ sau Đổi mới năm 1986, nhưng tốc độ tăng trưởng có sự phục hồi ấn tượng sau khi sụt giảm vào quý II/2020, và ở mức cao so với nhiều nước trên thế giới và khu vực. Kết thúc năm 2020, Việt Nam lại đạt được “mục tiêu kép” vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, vừa quyết liệt phòng, chống dịch bệnh. 

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cả năm 2020 thấp nhất kể từ sau Đổi mới năm 1986, nhưng có sự phục hồi khác với các đợt khủng hoảng tài chính. Ảnh: FILI
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cả năm 2020 thấp nhất kể từ sau Đổi mới năm 1986, nhưng có sự phục hồi khác với các đợt khủng hoảng tài chính. Ảnh: FILI

Một điểm khác biệt của khủng hoảng lần này là có nhiều ngành bị tác động tiêu cực bởi dịch COVID-19, song cũng có nhiều nhóm ngành được hưởng lợi. Trong khi khủng hoảng tài chính thì hầu hết các ngành bị ảnh hưởng, hoặc có ít ngành hưởng lợi hơn.

Theo ông Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, doanh nghiệp phát triển công nghệ học từ xa (edtech) đã tăng trưởng mạnh chưa từng có trong dịp dịch bệnh vừa qua. Các ngành công nghệ số quan trọng khác cũng tăng trưởng từ 18-46%, trong đó tăng mạnh nhất là thương mại điện tử với 46%. COVID-19 cũng đã thúc đẩy nhận thức chuyển đổi số ngành ngân hàng sớm thêm từ 3 đến 5 năm; tạo bước nhẩy vọt trong hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt.

Năm 2021, báo cáo cho rằng mặc dù COVID-19 tiếp tục diễn biến khó lường, nhưng những dấu hiệu tích cực đang dần sáng rõ. Nền kinh tế thế giới sẽ ấm dần lên, kéo theo hoạt động đầu tư, thương mại của nền kinh tế Việt Nam.

Dự báo của Viện Kinh tế Việt Nam, theo kịch bản cơ sở thì tăng trưởng GDP năm 2021 của Việt Nam sẽ đạt khoảng 5,49%. Nếu theo kịch bản cao sẽ là 6,9% còn thấp nhất là 3,48%. Khả năng đạt được mỗi kịch bản sẽ phụ thuộc vào tình hình kinh tế thế giới và sự tăng cường năng lực hấp thụ vốn FDI.

Nhóm nghiên cứu cho rằng trong bối cảnh rủi ro, khó đoán định của giai đoạn tới, các chính sách phải tập trung, nhận diện rõ và trả lời được các yếu tố nào đã giúp Việt Nam thành công trong việc đạt mục tiêu kép năm 2020, xác định các yếu tố này có còn được tiếp tục duy trì không trong năm 2021 hay không.

Dệt may là một trong những ngành đi qua COVID-19 ngoạn mục, dù ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề. Ảnh: Báo Thái Bình
Dệt may là một trong những ngành đi qua COVID-19 ngoạn mục, dù ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề. Ảnh: Báo Thái Bình

Viện Kinh tế Việt Nam đặc biệt lưu ý phải tránh chủ quan cho rằng Việt Nam đang ở nhóm tăng trưởng cao nhất. Bởi các điểm nghẽn vẫn cần phải được tập trung tháo gỡ một cách quyết liệt. Lưu ý tăng cường năng lực chống chịu và cải thiện chất lượng tăng trưởng theo hướng hiệu quả, xanh và bền vững.

Báo cáo nhận định Việt Nam đang đứng trước cơ hội vàng để có thể bứt phá và tăng tốc nhờ khoa học công nghệ và tiệm cận dần với giai đoạn của đổi mới sáng tạo. Một số lĩnh vực có thể bước cùng với các nước đã đi trước (công nghệ 5G, chuyển đổi số, công nghệ nano…), là cơ hội hiếm có để thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực.

Về giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn hậu COVID -19, ông Lê Xuân Sang cho rằng đại dịch là cú huých quan trọng ban đầu đối với quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình này không dễ dàng do nhiều nguyên nhân, trong đó có thể là một khi bệnh dịch được kiểm soát thì nỗ lực chuyển đổi số có thể chùng xuống, thậm chí ngưng hẳn, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Bên cạnh đó, các gói hỗ trợ và việc thực thi phải đúng mức các đặc trưng và bản chất của cú sốc COVID-19. Trong khủng hoảng COVID-19, các nhân tố mới khiến việc thiết kế, thực thi chính sách kích thích trở nên phức tạp. Việc thiết kế chính sách phải khác biệt, chi tiết hơn và có tính kiến tạo phát triển hơn.

Ông Lê Xuân Sang cho rằng khi nguồn lực hạn chế, chỉ nên tập trung ưu tiên vào giải cứu, hỗ trợ các doanh nghiệp có triển vọng tăng trưởng cao, tạo năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo cho nền kinh tế trong dài hạn; mức độ, ngành hàng thuộc diện giải cứu cần tính đến mức độ hưởng lợi, thiệt hại của ngành từ đại dịch.

Nhóm nghiên cứu cũng khuyến nghị đẩy mạnh việc IPO, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước để tạo vốn cho nên kinh tế.

Q.HUY