![]() |
| PGS.TS Bùi Thị An, Chủ tịch Hội Nữ trí thức thành phố Hà Nội |
Phát biểu tại Diễn đàn Ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học và sử dụng bao bì thân thiện với môi trường trong bảo quản, chế biến nông sản, PGS.TS Bùi Thị An, Chủ tịch Hội Nữ trí thức thành phố Hà Nội, cho rằng nông nghiệp Thủ đô đang đứng trước yêu cầu không chỉ sản xuất nhiều hơn mà phải tạo ra giá trị cao hơn, giảm tổn thất sau thu hoạch, bảo đảm an toàn thực phẩm và hạn chế tác động đến môi trường.
Hà Nội có lợi thế đặc biệt khi vừa là đô thị lớn với thị trường tiêu thụ nông sản rộng, vừa có các vùng sản xuất, sản phẩm đặc trưng, làng nghề, vùng chuyên canh, hợp tác xã và cơ sở chế biến. Tuy nhiên, giữa tiềm năng sản xuất và giá trị thực tế của nông nghiệp vẫn còn khoảng cách.
Một phần giá trị nông sản bị mất đi sau thu hoạch, công nghệ bảo quản và chế biến tại nhiều cơ sở còn hạn chế. Liên kết giữa sản xuất, chế biến và thị trường chưa thật bền vững, truy xuất nguồn gốc chưa đồng đều. Trong khi đó, bao bì trong nhiều trường hợp vẫn được lựa chọn chủ yếu theo tính tiện dụng trước mắt, chưa tính đầy đủ đến vòng đời sản phẩm và tác động môi trường.
Bài toán của Hà Nội hiện nay không chỉ là tăng sản lượng mà phải là tăng giá trị trên từng đơn vị nông sản và giảm chi phí xã hội, môi trường phát sinh trong toàn bộ vòng đời của sản phẩm.
Theo PGS.TS Bùi Thị An, đây là thời điểm khoa học và công nghệ cần tham gia thực chất vào chuỗi giá trị nông nghiệp. Công nghệ cao có thể nâng cao năng lực bảo quản, kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, chất lượng và điều kiện lưu trữ. Công nghệ số và cảm biến hỗ trợ giám sát chuỗi lạnh, truy xuất nguồn gốc và quản trị chất lượng.
Công nghệ sinh học mở ra các hướng bảo quản sinh học, sử dụng chế phẩm vi sinh để kiểm soát vi sinh vật gây hư hỏng, kéo dài thời gian bảo quản và nâng cao giá trị sản phẩm. Trong khi đó, công nghệ chế biến sâu có thể biến những nông sản dễ hư hỏng thành sản phẩm có thời gian bảo quản dài hơn, giá trị gia tăng cao hơn và khả năng tiếp cận thị trường rộng hơn.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi được từ phòng thí nghiệm đến đồng ruộng, từ nhà máy đến thị trường và tạo ra lợi ích thực tế cho người sản xuất, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Không phải bất cứ công nghệ hiện đại nào cũng phù hợp với mọi cơ sở sản xuất, đồng thời Hà Nội cần ưu tiên những giải pháp phù hợp về quy mô, chi phí, khả năng tiếp cận và nhân rộng, nhất là đối với hợp tác xã, hộ sản xuất và doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Khoảng cách giữa công nghệ tiên tiến và năng lực hấp thụ công nghệ của cơ sở sản xuất nếu không được giải quyết sẽ trở thành điểm nghẽn của quá trình chuyển đổi.
![]() |
Một vấn đề khác được PGS.TS Bùi Thị An nhấn mạnh là phát triển bao bì thân thiện với môi trường. Trong chuỗi nông sản hiện đại, bao bì không chỉ có chức năng chứa đựng mà còn liên quan đến an toàn thực phẩm, thời gian bảo quản, logistics, khả năng truy xuất, hình ảnh thương hiệu và lượng chất thải phát sinh sau tiêu dùng.
Do đó, chuyển sang bao bì thân thiện với môi trường không nên được hiểu đơn giản là thay thế vật liệu này bằng vật liệu khác. Cần đánh giá toàn bộ vòng đời của sản phẩm, từ nguồn nguyên liệu, năng lượng và tài nguyên sử dụng trong sản xuất bao bì đến khả năng bảo vệ nông sản, tái sử dụng, tái chế và xử lý sau khi sử dụng.
Một loại bao bì được coi là “xanh” nhưng làm giảm đáng kể thời gian bảo quản, tăng tỷ lệ hư hỏng hoặc khiến chi phí sản xuất tăng quá cao thì chưa chắc đã giải quyết tối ưu bài toán môi trường.
Ngược lại, nếu bao bì giúp kéo dài thời gian bảo quản, giảm tổn thất thực phẩm và sử dụng vật liệu có khả năng tái chế, tái sử dụng hoặc phân hủy phù hợp, đây có thể trở thành một bộ phận quan trọng của kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.
Từ thực tế trên, PGS.TS Bùi Thị An cho rằng các vấn đề về công nghệ, tiêu chuẩn, thị trường và chuyển đổi xanh cần được đặt trong một chỉnh thể thống nhất.
Trước hết, công nghệ phải tạo ra giá trị. Hà Nội cần xác định những công nghệ thực sự giải quyết các điểm nghẽn trong bảo quản và chế biến nông sản, những công nghệ có khả năng chuyển giao, nhân rộng và những lĩnh vực cần ưu tiên nghiên cứu, đổi mới.
Tiếp đó, công nghệ phải đi cùng tiêu chuẩn và thị trường. Một sản phẩm được bảo quản tốt nhưng không đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, không truy xuất được nguồn gốc hoặc không phù hợp với yêu cầu thị trường thì giá trị chưa được hình thành đầy đủ. Vì vậy, công nghệ bảo quản và chế biến cần gắn với tiêu chuẩn chất lượng, kiểm soát an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, thương hiệu và kết nối thị trường.
Cuối cùng, chuyển đổi công nghệ phải đi cùng chuyển đổi xanh. Mục tiêu không chỉ là giảm tổn thất sau thu hoạch hay tăng giá trị sản phẩm mà còn phải hướng tới chuỗi nông sản sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, phát sinh ít chất thải hơn, giảm tác động môi trường và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.





















Công nghệ cao giúp giảm thất thoát nông sản sau thu hoạch
Hà Nội thúc đẩy công nghệ xanh trong bảo quản, chế biến nông sản
Làm chủ công nghệ vật liệu carbon nano, mở thêm dư địa cho công nghệ xanh
Kết nối công nghệ xanh và kinh tế số từ mạng lưới nữ trí thức Việt Nam
Mật ong vị sô cô la, đặc sản mới từ công nghệ xanh
Cùng chuyên mục
Hà Nội cần đưa công nghệ vào toàn bộ chuỗi giá trị nông sản
Trang bị kiến thức pháp luật, nâng kỹ năng livestream trong kỷ nguyên số
Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt nam tăng 16 lần trong 10 năm qua
Nữ trí thức Đồng Nai: Biến trí tuệ thành nguồn lực phát triển trong kỷ nguyên số
Bồi đắp văn hóa ứng xử cho sinh viên từ tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chính sách khoa học, công nghệ đáng chú ý có hiệu lực từ tháng 10/2026