![]() |
| PGS.TS Trần Thị Như Hoa đứng giữa tại lễ nhận quyết định bổ nhiệm chức danh Phó giáo sư. |
Ở đoạn cảm biến, lớp vỏ của sợi quang được loại bỏ để lộ lõi silica, sau đó bề mặt được gắn các hạt nano có lõi vàng và vỏ bạch kim. Khi hoạt chất cần phân tích tiếp xúc với lớp vật liệu này, sự hấp phụ trên bề mặt làm thay đổi tín hiệu quang truyền qua sợi. Một tương tác ở kích thước phân tử nhờ vậy được chuyển thành biến đổi có thể đo bằng thiết bị quang học.
Đó là nguyên lý của công trình “Application of bimetallic gold–platinum nanoparticles in optical fiber sensors for pesticide detection”, đăng trên RSC Advances ngày 24/4/2026. Bài báo có 10 tác giả; PGS.TS Trần Thị Như Hoa đứng tên cuối, là tác giả liên hệ.
Khi hình dạng lớp bạch kim quyết định tín hiệu
Nhóm nghiên cứu không chỉ đặt hai kim loại cạnh nhau. Họ tạo lõi vàng, sau đó điều chỉnh lượng tiền chất bạch kim để hình thành bốn cấu trúc Au@Pt khác nhau. Lớp bạch kim thay đổi dần từ bề mặt khá nhẵn sang dạng phân nhánh mạnh.
Kết quả phân tích bằng phổ hấp thụ, kính hiển vi điện tử quét và kính hiển vi điện tử truyền qua cho thấy mẫu Au@Pt 3 có lớp vỏ bạch kim dạng nhánh, dày khoảng 12,5 nm. Cấu trúc này tạo diện tích bề mặt lớn và nhiều vùng tăng cường trường điện từ, thường được gọi là các “điểm nóng” plasmon.
Khi gắn Au@Pt 3 lên sợi quang và đặt vào kênh vi lưu bằng PDMS, nhóm thu được tín hiệu tốt hơn những cấu trúc còn lại. Phần kết quả và kết luận của bài báo nêu giới hạn phát hiện ở mức 1,73 × 10⁻¹⁴ M với Quinalphos và 1,37 × 10⁻¹¹ M với Thiram.
Các con số này thể hiện khả năng nhận biết chất ở nồng độ rất thấp trong điều kiện thử nghiệm. Nhóm còn thực hiện 11 phép đo độc lập, ghi nhận độ lệch chuẩn tương đối 1,67%. Thử nghiệm ổn định trong 300 giây có hệ số biến thiên dưới 0,1%.
Trước đó, Phụ nữ Mới đã giới thiệu cảm biến điện hóa từ graphene, ống nano carbon và nano vàng để phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Công trình của nhóm PGS.TS Trần Thị Như Hoa đi theo nguyên lý khác: đo sự thay đổi quang học trên sợi quang phủ cấu trúc nano lõi–vỏ.
[
![]() |
| PGS.TS Trần Thị Như Hoa làm việc với hệ thiết bị quang học tại phòng thí nghiệm. Ảnh: HCMUS. |
Độ nhạy phòng thí nghiệm chưa phải thiết bị ngoài đồng
Giới hạn phát hiện thấp là một kết quả đáng chú ý, nhưng chưa đủ để khẳng định cảm biến đã sẵn sàng kiểm tra nông sản hoặc nguồn nước ngoài thực địa.
Phần thực nghiệm của bài báo sử dụng Quinalphos và Thiram dạng hóa chất chuẩn mua từ nhà cung cấp. Toàn văn chưa báo cáo việc thử cảm biến với mẫu rau, quả, đất hoặc nước thực tế. Công trình cũng chưa trình bày một bảng đánh giá đầy đủ về ảnh hưởng của các hợp chất gây nhiễu thường xuất hiện cùng thuốc bảo vệ thực vật.
Nồng độ mol trong dung dịch thử nghiệm không thể chuyển trực tiếp thành giới hạn dư lượng tính theo mg/kg trên nông sản. Phép so sánh đó còn phụ thuộc vào loại mẫu, quy trình chiết tách, hiệu suất thu hồi, chất nền và phương pháp hiệu chuẩn.
Kết quả ổn định dưới 0,1% được đo trong 300 giây cũng chỉ phản ánh độ ổn định ngắn hạn. Để tiến tới một thiết bị sử dụng thực tế, nhóm còn phải đánh giá độ bền theo ngày hoặc theo tháng, sai khác giữa các lô vật liệu, khả năng tái sử dụng, độ chọn lọc và hiệu quả trên mẫu thật.
Phân biệt rõ những cấp độ này giúp tránh đồng nhất một nguyên mẫu phòng thí nghiệm với sản phẩm thương mại. Phụ nữ Mới từng phân tích rằng nghiên cứu khoa học thành công chưa đồng nghĩa với thương mại hóa thành công; cảm biến Au@Pt hiện cũng nên được nhìn nhận như một nền tảng cần tiếp tục hoàn thiện.
![]() |
| PGS.TS Trần Thị Như Hoa, ngoài cùng bên trái, trao đổi với sinh viên và học viên cao học trong phòng thí nghiệm. Ảnh: HCMUS. |
Dấu ấn ở khâu đặt vấn đề và giám sát nghiên cứu
Phần công bố đóng góp tác giả cho thấy Nguyễn Trần Trúc Phương thực hiện tổng hợp vật liệu, phân tích, khảo sát và viết bản thảo đầu tiên. PGS.TS Trần Thị Như Hoa tham gia hình thành ý tưởng, nghiên cứu thực nghiệm, hiệu đính bài báo và giám sát khoa học.
Cách ghi nhận này quan trọng vì kết quả không thuộc về riêng một cá nhân. Danh sách tác giả kết nối các cơ sở nghiên cứu tại Việt Nam, Hàn Quốc, Đài Loan và Mỹ. Vai trò của PGS.TS Trần Thị Như Hoa nằm ở việc cùng xây dựng hướng nghiên cứu, tham gia khảo sát và dẫn dắt quá trình chuyên môn của nhóm.
Bà được công nhận chức danh Phó giáo sư ngày 19/11/2025, hiện là giảng viên Khoa Khoa học và Công nghệ Vật liệu, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM, đồng thời dẫn dắt nhóm Cảm biến Quang học và Ứng dụng.
Trong hồ sơ chuyên môn, bà xác định vật liệu nano ứng dụng trong cảm biến quang học phục vụ y sinh, môi trường và thực phẩm là hướng nghiên cứu gắn bó lâu dài. Công trình Au@Pt tiếp tục đường hướng ấy, đồng thời cho thấy sinh viên và nhà nghiên cứu trẻ có thể tham gia từ chế tạo vật liệu, đo tín hiệu đến viết công bố quốc tế.
Một hướng cảm biến khác vừa được Phụ nữ Mới phản ánh là nền vật liệu nano nhận biết diclofenac trong nước. Đặt cạnh nhau, các nghiên cứu cho thấy nữ trí thức Việt Nam đang tham gia nhiều mắt xích của khoa học cảm biến, nhưng mỗi công trình cần được đánh giá theo đúng vật liệu, nguyên lý đo và cấp độ kiểm chứng riêng.
Giá trị hiện tại của cảm biến Au@Pt không nằm ở lời hứa về một sản phẩm có thể sử dụng ngay. Kết quả đáng chú ý hơn là mối liên hệ đã được đo kiểm giữa hình thái lớp bạch kim và độ nhạy của sợi quang. Đây là nền tảng cụ thể để nhóm tiếp tục trả lời các câu hỏi khó hơn về mẫu thật, độ chọn lọc và khả năng đưa hệ đo ra ngoài phòng thí nghiệm.
NGHIÊN CỨU ĐANG Ở ĐÂU?
Đã chế tạo cảm biến sợi quang phủ hạt nano lõi vàng–vỏ bạch kim và tích hợp vào kênh vi lưu PDMS.
Đã thử nghiệm riêng với Quinalphos và Thiram trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Chưa có dữ liệu được công bố về mẫu nông sản, đất hoặc nước thực tế; chưa phải thiết bị thương mại.
Tóm tắt bài báo dùng cụm “phát hiện đồng thời”, nhưng phần kết quả trình bày thử nghiệm Quinalphos và Thiram ở các bước riêng. Cần hỏi tác giả liệu hệ đã được thử với hỗn hợp chứa đồng thời hai chất hay chưa.
Tóm tắt ghi giới hạn phát hiện Quinalphos là 2,01 × 10⁻¹⁴ M; phần kết quả, bảng so sánh và kết luận ghi 1,73 × 10⁻¹⁴ M. Bản thảo sử dụng số trong phần kết quả nhưng cần tác giả xác nhận trước khi xuất bản.
Nguồn box: RSC Advances, DOI 10.1039/D6RA01129B.





















Nữ khoa học Việt phát triển cảm biến nano nhận biết diclofenac
Làm chủ công nghệ vật liệu carbon nano, mở thêm dư địa cho công nghệ xanh
PGS.TS Phạm Kim Ngọc nhận bằng sáng chế Mỹ cho công nghệ memristor phục vụ phần cứng AI
Polymer tự lành, Việt Nam mở hướng ứng dụng vật liệu y sinh
Cùng chuyên mục
Dòng chảy sông Đà thay đổi ra sao sau chuỗi hồ thủy điện
Dùng tín hiệu ánh sáng nhận biết hai thuốc bảo vệ thực vật
PGS.TS Lê Thị Thu Hà tạo mô hình 3D chi tiết cho đô thị
GS.TS Trần Lê Bảo Hà nghiên cứu ống ghép mạch máu đường kính nhỏ
GS.TS Trần Lê Bảo Hà theo đuổi hướng phục hồi nội mạc tử cung
PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh tìm cách đưa AI vào dược lâm sàng