![]() |
| Trong phòng thực hành của Đại học Bách khoa Hà Nội |
Giáo dục đại học: 2,78 triệu người học
Trong báo cáo kết quả năm học 2025-2026 và triển khai các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026-2027 của khối giáo dục đại học do ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT) trình bày nêu hiện các cơ sở giáo dục đại học có 2,78 triệu người học. Trong đó, 2,53 triệu sinh viên bậc đại học, 140.000 học viên thạc sĩ và 16.200 nghiên cứu sinh tiến sĩ.
Trong tổng số 226 cơ sở giáo dục đại học, Bộ Giao dục và Đào tạo quản lý nhiều cơ sở giáo dục đại học trực thuộc nhất, với 41 đơn vị. Tiếp theo đó, UBND tỉnh, thành phố hiện quản lý 26 trường đại học. Trong số các bộ, ngành quản lý cơ sở đại học, Bộ Quốc phòng có 19 trường, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý 13 trường, Bộ Y tế 11 trường; Bộ Công Thương 10 trường, Bộ Xây dựng 8 trường. Một số bộ hiện quản lý 1 cơ sở giáo dục đại học như Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ. Như vậy, đầu mối quản lý cơ sở đại học hiện vẫn phân mảnh.
Trong khi đó, Kế hoạch 06 về thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 3, tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp do Bộ Chính trị ban hành đề cập đến việc
các cơ sở giáo dục đại học công lập sẽ được sắp xếp, tổ chức lại. Định hướng sắp xếp cơ sở đại học là chuyển các cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực về Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc địa phương quản lý. Sáp nhập, hợp nhất các cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn, trừ những cơ sở thuộc lĩnh vực đặc thù. Mục tiêu của việc sắp xếp là giảm tối thiểu 20% số đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập, hoàn thành trước ngày 1/4/2027.
Xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang các ngành STEM
![]() |
| Quy mô tuyển sinh theo 9 nhóm ngành. Nguồn: Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT) |
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tuyển sinh năm 2026 tiếp tục ghi nhận xu hướng dịch chuyển đáng chú ý sang các ngành STEM. Tính đến ngày 20/8/2026, có hơn 633.000 thí sinh xác nhận nhập học, trong đó 212.601 thí sinh thuộc nhóm STEM, chiếm khoảng 33,6%.
Các ngành thuộc phạm vi Nghị định 179/2026/NĐ-CP có 121.072 thí sinh xác nhận nhập học, gồm 11.363 thí sinh các ngành khoa học cơ bản và 109.709 thí sinh thuộc các ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược.
Số người học được nhận học bổng là 21.309 người đối với khóa tuyển sinh năm 2025 và 22.909 người đối với khóa tuyển sinh năm 2026.
So với năm 2025, số lượt ngành và số thí sinh trúng tuyển vào nhóm STEM đều tăng. Năm 2026, nhóm này có 2.319 lượt ngành, tăng 299 lượt, tương ứng 14,8%. Số thí sinh trúng tuyển đạt 241.929, tăng 4.104 thí sinh, tương ứng 1,7%, tại 208 cơ sở đào tạo.
Nhưng giữa các lĩnh vực có sự gia tăng khác nhau. Trong nhóm STEM, ngành máy tính và công nghệ thông tin giảm số thí sinh dù số lượt ngành tăng. Trong khi đó các nhóm Công nghệ kỹ thuật, Kỹ thuật và Kiến trúc - xây dựng đều tăng.
Các lĩnh vực xây dựng, kỹ thuật then chốt và khoa học cơ bản là những nhóm tăng nhanh trong phạm vi chính sách học bổng. Riêng khoa học cơ bản tăng 37,1% về số lượt ngành và 26,1% về số thí sinh trúng tuyển.
Một số nhóm ngành kỹ thuật như Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật có số thí sinh trúng tuyển ở các lượt ngành từ 25 điểm trở lên tăng từ 2.997 lên 3.497.
Ở nhóm Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông, số thí sinh ở phân khúc từ 25 điểm trở lên tăng từ 3.900 lên 3.950. Nhóm Kỹ thuật hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường có số thí sinh ở phân khúc từ 25 điểm trở lên tăng từ 313 lên 1.270.
Ngoài nhóm STEM, cũng có một số nhóm ngành khác có biến động.
Nhóm Sư phạm - Giáo viên có 513 lượt ngành, tăng 38 lượt, tương ứng 8%, so với năm 2025. Số thí sinh trúng tuyển đạt 44.623, tăng 5.688 người, tương ứng 14,6%, tại 77 cơ sở đào tạo.
Nhóm Y dược - Sức khỏe có 338 lượt ngành, tăng 15 lượt, tương ứng 4,6%. Tuy nhiên, số thí sinh trúng tuyển giảm 191 người, còn 43.991, tương ứng giảm 0,4%, tại 76 cơ sở đào tạo.
Với nhóm Luật, số lượt ngành tăng 13, lên 212 lượt, tương ứng 6,5%. Ngược lại, số thí sinh trúng tuyển giảm 7.595 người, tương ứng 23,7%, còn 24.483 thí sinh, tại 113 cơ sở đào tạo.
Nhóm Quản lý - Kinh tế có 1.294 lượt ngành, tăng 155 lượt, tương ứng 13,6%. Số thí sinh trúng tuyển đạt 166.629, tăng 2.549 người, tương ứng 1,6%, tại 189 cơ sở đào tạo.
Nhóm Nông - Lâm - Thủy sản có 170 lượt ngành, tăng 5 lượt, tương ứng 3%; số thí sinh trúng tuyển đạt 10.475, tăng 258 người, tương ứng 2,5%, tại 46 cơ sở đào tạo.
Trong khi đó, nhóm Du lịch - Dịch vụ - Vận tải có 384 lượt ngành, tăng 43 lượt, tương ứng 12,6%. Tuy nhiên, số thí sinh trúng tuyển giảm 1.669 người, tương ứng 3,4%, còn 47.482 thí sinh tại 139 cơ sở đào tạo.
Giảng viên có trình độ tiến sĩ chiếm 39%
![]() |
| Số lượng giảng viên theo trình độ, học hàm năm 2026 (tính tới ngày 31/7) so với năm 2022. Nguồn: Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT). |
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến ngày 31/7/2026, số giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên đạt 92.275 người, chiếm 39% tổng số giảng viên, tăng đáng kể so với mức 31,7% năm 2022.
Theo báo cáo của Bộ GD&ĐT, cơ chế tự chủ tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học chủ động tuyển dụng, bồi dưỡng giảng viên có trình độ tiến sĩ phù hợp với nhu cầu đào tạo.
Việc xác định quy mô tuyển sinh theo Thông tư số 34/2026/TT-BGDĐT được gắn với số lượng, trình độ giảng viên và các điều kiện bảo đảm chất lượng, qua đó tạo cơ sở cho việc phát triển đội ngũ.
























Chiến lược phát triển giáo dục đại học: Phát triển theo chất lượng, giải quyết những điểm nghẽn
Từ những con số đến văn hóa chất lượng trong đại học
Có dữ liệu nhưng chưa đủ: Bài toán mới của chất lượng đại học
Dự kiến nhiều thay đổi trong tuyển sinh đại học các năm tới
Một hiện tượng phổ biến sau kỳ tuyển sinh đại học đang khiến nhiều phụ huynh phiền lòng: Cha mẹ tỉnh táo lên, đừng rơi vào "bẫy" này nữa!
Du học từ bậc trung học tại New South Wales: Con được chuẩn bị gì trước ngưỡng cửa đại học?
Cùng chuyên mục
Năm 2028: Hoàn thành bộ sách giáo khoa mới từ lớp 1-12
Bức tranh đại học Việt Nam qua các con số
Dấu lặng từ “Con ghét cha mẹ”
Siết quy định hoạt động hội cha mẹ học sinh để chống lạm thu
Hình thành cơ sở dữ liệu giáo dục-đào tạo thống nhất
Những điều chỉnh về quy định chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp