Tìm cây trồng thích ứng với vùng đất khô hạn
Sau hơn 5 năm kiên trì thuần hóa giống chà là Medjool nhập khẩu từ Israel, ông Nguyễn Văn Tiến từng bước xây dựng mô hình nông trại theo hướng hữu cơ tại thôn Tuấn Tú, Phước Dinh, Khánh Hòa. Khả năng chịu hạn tốt, nhu cầu nước thấp, quy trình chăm sóc hạn chế hóa chất cùng năng suất có thể đạt hàng trăm kg quả/cây đang mở ra một hướng tiếp cận đáng chú ý đối với nông nghiệp xanh trên vùng đất nhiều nắng, gió và cát.
Trên vùng đất khô nóng, nơi bài toán nguồn nước luôn được đặt lên hàng đầu đối với sản xuất nông nghiệp, những hàng chà là xanh tốt, trĩu quả tại nông trại của ông Nguyễn Văn Tiến tạo nên một hình ảnh khá đặc biệt.
Không phải cây trồng bản địa, chà là Medjool được đưa về từ Israel, quốc gia nổi tiếng với nền nông nghiệp thích ứng điều kiện khô hạn. Quá trình đưa một giống cây ngoại nhập đến vùng đất mới không đơn giản. Theo ông Tiến, phải mất hơn 5 năm kiên trì trồng thử nghiệm, theo dõi và điều chỉnh kỹ thuật, những cây chà là mới từng bước thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng, nhiệt độ và khí hậu tại địa phương.
![]() |
| Giống cây chà là Medjool được nhập từ Israel. Hiện tại, trang trại có diện tích vùng trồng khoảng 50 ha, với mật độ 100 cây/ha. |
Điều ông Tiến quan tâm không chỉ là tạo ra một loại trái cây có giá trị kinh tế cao, mà còn tìm kiếm cây trồng có khả năng thích ứng với khô hạn, sử dụng nước tiết kiệm và có thể phát triển theo hướng nông nghiệp hữu cơ.
“Đặc điểm đáng chú ý của cây chà là là khả năng chịu nóng, chịu hạn rất tốt. Khi thiếu nước, cây có thể chậm hoặc tạm dừng phát triển nhưng không dễ chết như nhiều loại cây trồng khác. Đây là lý do tôi lựa chọn chà là cho vùng đất này”, ông Tiến chia sẻ.
Theo ông Tiến, trước khi lựa chọn chà là, bài toán lớn nhất đối với sản xuất nông nghiệp tại khu vực là nước tưới. Nếu phát triển những cây trồng cần lượng nước lớn trên quy mô hàng chục hecta, tổng nhu cầu nước mỗi ngày sẽ trở thành áp lực rất lớn.
Trong khi đó, chà là vốn có nguồn gốc và được canh tác tại những khu vực khí hậu khô nóng nên khả năng thích ứng hạn tốt hơn. Theo kinh nghiệm thực tế tại nông trại, cây không đòi hỏi chế độ chăm sóc quá phức tạp. Hệ thống tưới và chăm sóc được kiểm soát nhằm sử dụng nguồn nước hợp lý, phù hợp từng giai đoạn sinh trưởng.
Ông Tiến cho biết theo tiêu chuẩn canh tác của Israel, lượng nước có thể được kiểm soát khá chặt. Tại nông trại, phương thức tưới được điều chỉnh theo điều kiện thực tế và chu kỳ sinh trưởng của cây thay vì tưới tràn thường xuyên. Việc quản lý tưới cũng từng bước được tự động hóa, qua đó giảm nhân công và kiểm soát tốt hơn nguồn tài nguyên nước.
![]() |
| Sau nhiều năm theo dõi, khảo nghiệm cùng với sự giám sát, hỗ trợ của Chi cục Trồng trọt tỉnh Ninh Thuận (cũ) và điều chỉnh kỹ thuật canh tác, giống cây ngoại nhập này đã hoàn toàn thích nghi với thổ nhưỡng và khí hậu khắc nghiệt tại đây. |
Khả năng chịu hạn càng trở nên đáng chú ý trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp phải đối mặt với thời tiết cực đoan, nắng nóng kéo dài và nguồn nước ngày càng trở thành yếu tố quyết định hiệu quả đầu tư.
Theo ông Tiến, giống chà là được nông trại lựa chọn có xuất xứ từ Israel, trong đó Medjool là dòng quả có giá trị cao. Khác với một số giống chà là phổ biến trên thị trường, giống nhập từ Israel khó thuần hóa hơn trong giai đoạn đầu, chi phí cây giống cao và tỷ lệ cây sống sau quá trình vận chuyển, đưa về Việt Nam cũng là thách thức. Bù lại, cây có lợi thế về khả năng thích nghi với điều kiện ít mưa và chất lượng quả.
Medjool được biết đến với đặc trưng quả lớn, thịt dẻo mềm, vị ngọt thanh tự nhiên, giàu chất xơ, vitamin và khoáng chất. Chính chất lượng quả cùng khả năng thích nghi khí hậu khô nóng khiến ông Tiến quyết định theo đuổi giống cây này trong nhiều năm thay vì lựa chọn phương án dễ trồng hơn.
![]() |
| Tại Đồi cát Nam Cương, đầy nắng gió, lượng mưa quanh năm ít nhất cả nước, nơi nguồn nước luôn là bài toán khó giải cho sản xuất nông nghiệp, trang trại chà là của ông Nguyễn Văn Tiến nổi lên như một điểm sáng về khả năng thích nghi. |
Đến nay, theo chia sẻ của ông Tiến, diện tích chà là của nông trại vào khoảng 50 ha. Một hecta bố trí khoảng 100 cây. Tuy nhiên, để xây dựng được vùng trồng như hiện nay là quá trình thử nghiệm kéo dài, đặc biệt ở khâu giống, nước tưới và chăm sóc cây trong những năm đầu.
Một đặc tính đáng chú ý là chà là không cho thu hoạch ngay. Cây con cần khoảng 4-5 năm mới bắt đầu bước vào giai đoạn cho trái. Mỗi năm cây chỉ cho một vụ, vì vậy người trồng phải xác định đây là mô hình đầu tư dài hạn thay vì kỳ vọng thu hồi vốn trong thời gian ngắn.
Từ thời điểm cây bắt đầu ra hoa đến khi quả đạt độ chín thu hoạch kéo dài khoảng 6-7 tháng tùy điều kiện thời tiết. Trong quá trình trưởng thành, quả chuyển dần từ màu xanh sang vàng, đỏ và cuối cùng là đỏ sẫm.
Khi bước vào mùa trái, mỗi cây có thể mang từ 10-20 buồng. Tùy cây và giai đoạn phát triển, mỗi buồng có thể đạt khoảng 10-20 kg. Với những cây sinh trưởng tốt, tổng sản lượng dự kiến có thể đạt 250-300 kg quả sạch/cây/vụ. Theo ghi nhận của chủ nông trại, ngay những cây mới bước sang năm thứ tư đã có cây cho trên 100 kg quả; khi ổn định, năng suất có thể đạt từ 100-300 kg/cây.
Làm nông nghiệp xanh từ phân hữu cơ đến kiểm soát sâu bệnh
Điểm đáng chú ý của mô hình không chỉ nằm ở giống cây chịu hạn mà còn ở cách thức canh tác. Ông Nguyễn Văn Tiến cho biết vườn chà là được định hướng theo mô hình nông nghiệp sạch, áp dụng quy trình chăm sóc theo hướng hữu cơ, hạn chế tối đa sự phụ thuộc vào phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học.
“Chúng tôi áp dụng công nghệ trong chăm sóc, theo dõi và kiểm soát chất lượng, nhưng phần dinh dưỡng cho cây đi theo hướng hữu cơ, không sử dụng phân bón hóa học như cách sản xuất thông thường. Trang trại sử dụng thiết bị cảm biến do các chuyên gia Israel phát triển để phát hiện sớm sâu hại, kết hợp chế phẩm thảo mộc NNT-18 từ cây neem do chúng tôi nghiên cứu và sản xuất để sử dụng trong quy trình chăm sóc.” ông Tiến nói.
Một nguồn dinh dưỡng được sử dụng tại trang trại là phụ phẩm hữu cơ từ chăn nuôi cừu. Theo chu kỳ khoảng 2-3 tuần, cây được bổ sung nguồn dinh dưỡng hữu cơ. Cách làm này hướng tới tận dụng phụ phẩm trong nông trại, giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học và tạo vòng tuần hoàn trong sản xuất.
![]() |
| Trang trại ưu tiên các biện pháp canh tác theo hướng hữu cơ, ông Tiến tận dụng nguồn phụ phẩm từ chăn nuôi cừu tại chỗ để bổ sung chất hữu cơ và dinh dưỡng cho cây. |
Công nghệ được đưa vào ở những khâu cần độ chính xác như theo dõi vườn cây, quản lý tưới và phát hiện côn trùng. Khi hệ thống phát hiện dấu hiệu bất thường, thông tin được chuyển về để người quản lý kiểm tra và xử lý. Đáng chú ý, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào thuốc diệt côn trùng, trang trại ưu tiên biện pháp xử lý thủ công khi điều kiện cho phép.
Ở giai đoạn cây mang trái, từng buồng chà là được chăm sóc khá công phu. Buồng quả được bao bọc qua hai lớp. Lớp lưới phía trong giúp hạn chế côn trùng xâm nhập, trong khi lớp giấy phía ngoài góp phần bảo vệ quả trước sương muối, nước mưa và những tác động bất lợi của thời tiết.
Đây cũng là khâu quan trọng bởi cây chà là có thể chịu hạn tốt nhưng chất lượng quả lại chịu ảnh hưởng của mưa trong thời kỳ chín. Việc chủ động bảo vệ từng buồng quả giúp hạn chế tổn thất mà không nhất thiết phải gia tăng sử dụng hóa chất.
Theo ông Tiến, mô hình hiện có bốn giống chà là ăn tươi và một giống chà là khô. Đối với sản phẩm tươi, quả sau khi thu hoạch được sơ chế để đưa ra thị trường. Chà là khô được làm sạch, xử lý và đóng gói. Thị trường hiện chủ yếu là người tiêu dùng trong nước, trong đó sản phẩm có giá trị cao được phân phối qua các kênh trực tuyến và cửa hàng trái cây nhập khẩu, trái cây cao cấp.
![]() |
| Từ vùng đất cát khô hạn từng bị xem là khó canh tác, những hàng chà là đã tạo nên một mảng xanh mới và mở ra hướng phát triển sản phẩm có giá trị cao. |
Giá bán được ông Tiến chia sẻ dao động theo giống và chất lượng, có sản phẩm khoảng trên 300.000 đồng/kg, loại cao hơn có thể đạt khoảng 600.000 đồng/kg đối với chà là ăn tươi, còn chà là khô dao động từ 1.200.000 - 1.500.000 đồng/kg. Tuy nhiên, theo chủ nông trại, mục tiêu quan trọng không đơn thuần là giá bán mà là từng bước tạo được sản phẩm chà là chất lượng cao ngay tại Việt Nam, qua đó giảm sự phụ thuộc vào hàng nhập khẩu.
Từ cây chịu hạn đến bài toán nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu
Sau gần 5 năm thử nghiệm, giá trị lớn của mô hình có lẽ không chỉ được đo bằng số kg chà là thu hoạch trên mỗi cây.
Trong điều kiện những vùng khô nóng ngày càng chịu áp lực từ biến đổi khí hậu và nguồn nước, việc tìm kiếm cây trồng có khả năng thích ứng tốt, tiết kiệm nước nhưng vẫn tạo ra giá trị kinh tế là hướng đi cần được quan tâm.
Chà là cho thấy một số lợi thế: chịu nhiệt và hạn tốt, nhu cầu chăm sóc không quá phức tạp khi cây đã ổn định, chỉ thu hoạch một vụ mỗi năm và có giá trị sản phẩm tương đối cao. Đây cũng là cây lâu năm nên nếu được quy hoạch phù hợp, mô hình có thể tạo vùng sản xuất ổn định thay vì phụ thuộc quá nhiều vào cây ngắn ngày.
Tuy nhiên, ông Tiến nhìn nhận khả năng nhân rộng vẫn còn những rào cản. Trước hết là chi phí cây giống cao. Giống chà là Israel chất lượng tốt nhưng quá trình nhập khẩu khó khăn, tỷ lệ sống sau vận chuyển không phải lúc nào cũng cao. Đây là khoản đầu tư đáng kể nếu người dân muốn phát triển diện tích lớn.
Thời gian kiến thiết cơ bản kéo dài 4-5 năm cũng đòi hỏi người đầu tư phải có nguồn lực tài chính và sự kiên trì. Bên cạnh đó, để sản phẩm đạt chất lượng cao, người trồng cần kiểm soát đồng bộ từ giống, nước, dinh dưỡng, thụ phấn, sâu bệnh đến bảo vệ quả và thu hoạch.
Chính vì vậy, ông Tiến đang hướng đến chủ động nhân giống trong nước. Nếu từng bước làm chủ được nguồn giống phù hợp với điều kiện địa phương, bài toán chi phí ban đầu có thể được cải thiện, đồng thời tạo điều kiện nghiên cứu khả năng mở rộng mô hình. Theo kế hoạch được ông chia sẻ, nông trại dự kiến tiếp tục mở rộng thêm khoảng 10 ha, song tiến độ phụ thuộc nhiều vào nguồn cây giống.
![]() |
| Từ khâu canh tác theo tiêu chuẩn hữu cơ đến chế biến sâu, toàn bộ quy trình được đầu tư bài bản, chỉn chu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. |
Từ những hàng chà là phải mất nhiều năm mới bén rễ đến những buồng quả nặng hàng chục kg hôm nay là hành trình thử nghiệm không ngắn. Nhưng phía sau một loại trái cây mới còn là câu chuyện lớn hơn: lựa chọn cây trồng phù hợp với tài nguyên và điều kiện khí hậu thay vì tìm cách buộc tự nhiên thích nghi với phương thức sản xuất.
Trên vùng đất nhiều nắng và cát, mô hình chà là Medjool của ông Nguyễn Văn Tiến đang gợi mở một hướng tiếp cận đối với nông nghiệp xanh: chọn cây chịu hạn, tiết kiệm tài nguyên nước, tăng sử dụng nguồn dinh dưỡng hữu cơ, ứng dụng công nghệ để quản lý chính xác và hướng tới sản phẩm có giá trị cao.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đặt ngành nông nghiệp trước yêu cầu phải sử dụng hiệu quả hơn từng mét khối nước và từng đơn vị đất sản xuất, những mô hình thử nghiệm như vườn chà là có thêm ý nghĩa. Nếu tiếp tục được đánh giá đầy đủ về hiệu quả kinh tế, lượng nước sử dụng, chất lượng sản phẩm và khả năng thích nghi lâu dài, đây có thể trở thành một kinh nghiệm đáng tham khảo trong quá trình tìm kiếm những mô hình nông nghiệp thích ứng khô hạn và thân thiện hơn với môi trường.




























Thị trường carbon vận hành: Cơ hội tỷ USD cho kinh tế xanh Việt Nam
Nữ trí thức trước cơ hội dẫn dắt đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế xanh, kinh tế số
Biến đổi khí hậu là thách thức toàn cầu, đòi hỏi nguồn lực khổng lồ để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh
Phát triển kinh tế xanh gắn với bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Công chúa Kako ghi điểm
Chưa phát hành chính thức, bom tấn mới của Valve đã phá kỷ lục Steam, hơn 228.000 game thủ cùng lúc đổ xô trải nghiệm
Cùng chuyên mục
Đưa chà là Medjool về vùng đất cát, tìm hướng đi cho nông nghiệp xanh thích ứng khô hạn
Cabin rộng rãi đi cùng ưu đãi 9%, VF 6 giúp gia đình trẻ thuận lợi lên đời SUV
Sau một năm được cấp AOC, Sun PhuQuoc Airways được phê chuẩn khai thác Airbus A330
Thị trường văn phòng Hà Nội sắp đổi chiều chủ nhà, khách thuê làm gì?
Sức mạnh hơn 200 mã lực đi cùng ưu đãi 9%: VF 6 tạo “cú hích kép” cho người mua
Doanh nghiệp trước cuộc chuyển tiếp kép: Người mua thay đổi, người làm cũng khác