![]() |
| NCS. Nguyễn Vũ Thảo Trâm nhận bằng tốt nghiệp ngành Sinh học tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, tháng 7/2026. Cô tốt nghiệp loại xuất sắc và là á khoa Khoa Sinh học. |
Tháng 8/2026, NCS. Nguyễn Vũ Thảo Trâm đặt chân tới Đại học Công nghệ Nanyang (NTU), Singapore để bắt đầu chương trình nghiên cứu sinh bốn năm. Vài tuần trước đó, cô vừa hoàn thành chương trình tài năng ngành Sinh học tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ở tuổi 22, khoảng cách giữa một sinh viên mới tốt nghiệp và một nghiên cứu sinh tưởng như được rút ngắn rất nhanh, nhưng chặng đường dẫn tới đó lại bắt đầu từ những thao tác rất cơ bản trong phòng thí nghiệm.
NCS. Nguyễn Vũ Thảo Trâm theo học lớp chuyên Sinh từ phổ thông và được tuyển thẳng vào chương trình tài năng ngành Sinh học sau khi đạt giải học sinh giỏi quốc gia. Khi vào đại học, cô không chờ tới năm ba mới thử sức với nghiên cứu mà từ năm hai đã xin vào Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Enzym và Protein do PGS.TS. Nguyễn Quang Huy phụ trách. Những ngày đầu lại không giống hình dung về một người sau này có thể bước thẳng vào chương trình tiến sĩ: Trâm tự nhận thao tác còn lóng ngóng, hay xảy ra lỗi và từng đạt điểm thấp nhất trong một lần đánh giá kỹ thuật của phòng thí nghiệm.
Một trong những bài học đầu tiên đến từ thí nghiệm PCR. Khi sản phẩm được điện di, các băng DNA bị nhòe và không đạt yêu cầu. Thay vì xem đây chỉ là một lần “làm hỏng”, Trâm phải quay lại kiểm tra từng bước, từ thao tác, mẫu đến điều kiện phản ứng. Việc ghi chép kỹ hơn, lặp lại phép thử và tìm nguyên nhân dần trở thành một phần của cách cô học nghiên cứu. Đây cũng là chi tiết giúp hành trình của Trâm khác với một hồ sơ chỉ gồm bảng điểm, học bổng và giải thưởng.
Khi một nghiên cứu phải đi qua nhiều lần thử sai
Đến năm 2026, quá trình tích lũy ấy có một kết quả có thể kiểm chứng bằng công bố khoa học. Ngày 8/4, Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên đăng bài nghiên cứu về việc thiết kế vector tái tổ hợp mang đồng thời ba gene UbiC, MNX và As nhằm tạo chủng Escherichia coli có khả năng sinh tổng hợp arbutin. NCS. Nguyễn Vũ Thảo Trâm đứng tên đầu, cùng Ngô Thùy Dương, PGS.TS. Nguyễn Quang Huy và Chử Lương Luân.
![]() |
| NCS. Nguyễn Vũ Thảo Trâm trong phòng thí nghiệm thời còn là sinh viên ngành Sinh học. Những lần thực hành đầu tiên giúp cô làm quen với PCR, xử lý mẫu và các kỹ thuật sinh học phân tử. |
Bài toán của nhóm không phải lấy arbutin có sẵn từ thực vật mà xây dựng một hệ sinh học có thể tạo ra hợp chất này. Ba gene có nguồn gốc khác nhau được lắp vào cùng vector biểu hiện pCDFDuet-1 rồi đưa vào E. coli. Vector tái tổ hợp được kiểm tra bằng các kỹ thuật sinh học phân tử trước khi nhóm đánh giá khả năng tạo arbutin. Việc NCS. Nguyễn Vũ Thảo Trâm đứng tên đầu cho thấy vai trò đáng kể của cô trong công trình, nhưng kết quả vẫn là sản phẩm của một nhóm tác giả và không nên quy toàn bộ cho riêng một người.
Giá trị của nghiên cứu ở giai đoạn này nằm ở việc chứng minh một hướng tiếp cận có thể thực hiện được trong hệ thí nghiệm. Nó chưa phải quy trình sản xuất arbutin ở quy mô công nghiệp, cũng chưa cho phép nói tới thương mại hóa. Chính giới hạn đó phù hợp với cách nhìn về một người trẻ mới bước vào khoa học chuyên sâu: công bố đầu tiên không phải điểm kết thúc, mà là bằng chứng cho thấy cô đã đi từ học thao tác tới tham gia xây dựng và kiểm chứng một câu hỏi nghiên cứu hoàn chỉnh.
Chặng tiếp theo lại mở ra từ một cơ hội ban đầu khá tình cờ. Trong năm 2025, Thảo Trâm tham gia chương trình trao đổi nghiên cứu hai tháng tại NTU cùng ba sinh viên khác. Ở phòng thí nghiệm của GS. Dan He, cô tiếp cận công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR-Cas, với một đề tài tìm hiểu chức năng của một gene và khả năng liên quan tới hướng nghiên cứu ung thư. Nguồn công khai không nêu cụ thể gene nào, cũng không có dữ liệu để nói tới một liệu pháp chống ung thư; vì vậy đây phải được hiểu đúng là nghiên cứu chức năng gene ở giai đoạn phòng thí nghiệm.
Điều thay đổi rõ hơn sau hai tháng ở Singapore là khả năng làm việc của chính Trâm. Nếu những ngày đầu ở Hà Nội cô còn gặp khó với kỹ thuật cơ bản, thì tại NTU cô đã có thể thực hiện những thao tác như đưa gene vào vector và nuôi cấy vi sinh với mức độ độc lập cao hơn. Sau kỳ trao đổi, cô trở về Việt Nam, tiếp tục cùng bạn học thực hiện một đề tài liên quan tới chỉnh sửa gene; công trình sau đó đạt giải Nhất nghiên cứu khoa học sinh viên cấp khoa và giải Nhì cấp trường.
Không biến học bổng thành đích đến
![]() |
| NCS. Nguyễn Vũ Thảo Trâm (thứ hai từ phải sang) cùng bạn học trong thời gian học tập tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN. |
Tháng 5/2026, khi chưa nhận bằng cử nhân, Thảo Trâm nhận thông báo trúng tuyển chương trình tiến sĩ của NTU. Cô hoàn thành đại học loại xuất sắc với GPA 3,72/4, là á khoa Khoa Sinh học. Những con số này dễ khiến câu chuyện bị kéo về mô-típ quen thuộc của một “nữ sinh thành tích cao”, nhưng nếu chỉ nhìn vào học bổng hay thứ hạng tốt nghiệp, phần quan trọng hơn trong lựa chọn nghề nghiệp lại bị che khuất.
Ở thời điểm nhận học bổng, Trâm đã trải qua một quá trình đủ dài để biết công việc nghiên cứu gồm những gì: thí nghiệm thất bại, thời gian lặp lại thao tác, dữ liệu cần kiểm tra, những câu hỏi không phải lần thử đầu tiên đã có câu trả lời. Hai tháng tại NTU giúp cô xác định rõ hơn rằng môi trường nghiên cứu này phù hợp với hướng phát triển của mình, thay vì đơn thuần mở ra một cơ hội du học. Đến đầu tháng 8/2026, Báo Thái Nguyên ghi nhận NCS. Nguyễn Vũ Thảo Trâm đã có mặt tại Singapore và bắt đầu chương trình bốn năm tại Trường Hóa học, Kỹ thuật Hóa học và Công nghệ Sinh học của NTU.
Hướng mà Trâm lựa chọn cho chặng sau đại học là Hóa sinh và Sinh học phân tử. Các chia sẻ trước khi lên đường cũng cho thấy cô quan tâm tới cơ chế phân tử của bệnh và muốn tiếp tục phát triển kinh nghiệm với công nghệ chỉnh sửa gene CRISPR-Cas. Tuy nhiên, chưa có nguồn học thuật chính thức công bố đầy đủ đề tài luận án tiến sĩ của cô, vì vậy không nên đi xa hơn bằng cách gắn cho Trâm một dự án điều trị ung thư cụ thể.
Việc giữ ranh giới giữa định hướng và kết quả đã có đặc biệt quan trọng với một gương mặt trẻ. Công trình arbutin không đồng nghĩa Trâm đã xây dựng được quy trình sản xuất thương mại. Trải nghiệm CRISPR-Cas không đồng nghĩa cô đã tìm ra một phương pháp chữa ung thư. Học bổng tiến sĩ cũng chưa phải thước đo cho một sự nghiệp khoa học mới bắt đầu. Những gì đã có giá trị hơn khi đặt cạnh nhau: cô đã biết cách làm việc trong phòng thí nghiệm, có công bố với vai trò tác giả đầu, từng làm nghiên cứu trong hai môi trường khác nhau và đang tiếp tục đào tạo chuyên sâu.
Trong lựa chọn ấy còn có ảnh hưởng từ gia đình. Mẹ của Trâm từng là giảng viên Sinh học; từ nhỏ cô đã theo mẹ tới trường và phòng thí nghiệm. Sau khi mẹ mất khi Trâm còn học phổ thông, mong muốn tiếp tục con đường nghiên cứu của mẹ trở thành một phần trong quyết định theo Sinh học thay vì lựa chọn Y khoa mà cô cũng đủ điều kiện trúng tuyển. Đây là động lực được chính Trâm nhiều lần chia sẻ, nhưng cuối cùng con đường cô đi vẫn phải được chứng minh bằng công việc của chính mình.
NCS. Nguyễn Vũ Thảo Trâm hiện mới ở phần đầu của chặng nghiên cứu đó. Không có cơ sở để biết bốn năm tới sẽ dẫn cô tới công trình nào, hoặc hướng nghiên cứu hiện tại sẽ thay đổi ra sao. Nhưng từ lần điện di PCR không đạt yêu cầu tới bài báo đứng tên đầu và chương trình tiến sĩ tại Singapore, một điều đã khá rõ: lựa chọn khoa học của Trâm không được hình thành từ một thành tích duy nhất. Nó được tạo nên bằng những lần làm lại, tích lũy kỹ năng và tiếp tục đặt câu hỏi sau mỗi kết quả đã có.



















NCS Bùi Phương Thảo tìm cách tăng sức chống bệnh cho đậu tương
Nữ thủ khoa Công nghệ Sinh học với cách giải quyết vấn đề từ phòng thí nghiệm
Nghiên cứu khoa học thành công chưa đồng nghĩa với thương mại hóa thành công
Cùng chuyên mục
Từ phòng thí nghiệm đến câu hỏi về nấm mốc thực phẩm
Khi một nữ sinh Sinh học chọn con đường nghiên cứu dài hơi
Học viên Trần Phương Anh đi từ Vật lý Y khoa đến ảnh quang âm
Hai nữ sinh đưa giá trị di sản xứ Đoài vào dữ liệu
Nữ thủ khoa đầu vào UEL 2026 đạt SAT 1.480, IELTS 7.5
Nữ thủ khoa Công nghệ Sinh học với cách giải quyết vấn đề từ phòng thí nghiệm