![]() |
| NCS. Nguyễn Thị Quý trình bày luận án về mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và suy thoái môi trường tại Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG-HCM ngày 27/8/2026. Ảnh: UEL. |
Tăng trưởng kinh tế thường đi cùng nhiều thay đổi mà những con số GDP không phản ánh hết: đô thị mở rộng, dòng vốn đầu tư dịch chuyển, công nghệ mới được đưa vào sản xuất và lượng năng lượng tiêu thụ thay đổi. Mỗi yếu tố đều có thể tác động đến môi trường, nhưng tác động ấy không nhất thiết giống nhau ở từng giai đoạn hay từng quốc gia. Đây là bài toán NCS. Nguyễn Thị Quý, giảng viên Trường Đại học Tài chính – Marketing, theo đuổi qua một chuỗi nghiên cứu về kinh tế và phát thải trong những năm gần đây.
Ngày 27/8/2026, NCS. Nguyễn Thị Quý bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ngành Kinh tế học tại Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG-HCM, với đề tài về mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và suy thoái môi trường ở các quốc gia đang phát triển tại châu Á. Công trình không chỉ đặt câu hỏi tăng trưởng làm phát thải tăng hay giảm, mà tách riêng vai trò của FDI, đô thị hóa, công nghệ, tự do kinh tế và xem xét các quan hệ trong ngắn hạn lẫn dài hạn.
Không chỉ hỏi tăng trưởng có làm phát thải tăng
Một trong những giả thuyết được kiểm tra trong luận án là đường cong môi trường Kuznets, thường được mô tả bằng hình chữ U ngược: ở giai đoạn đầu của phát triển, áp lực môi trường có thể tăng cùng thu nhập; khi nền kinh tế đạt tới một mức nhất định, cấu trúc sản xuất, công nghệ hoặc các điều kiện khác có thể làm xu hướng ấy đổi chiều. Luận án của NCS. Nguyễn Thị Quý ghi nhận bằng chứng ủng hộ giả thuyết này trong dài hạn đối với phạm vi nghiên cứu. Đây là kết quả của mô hình và dữ liệu được sử dụng, không phải quy luật mặc nhiên cho mọi nền kinh tế.
Để tách những quan hệ vốn đan xen này, luận án sử dụng các mô hình ARDL, NARDL, kiểm định nhân quả Granger và đồ thị phản ứng đẩy. Nói đơn giản, cách làm cho phép nhà nghiên cứu không chỉ quan sát hai biến cùng tăng hay cùng giảm mà còn kiểm tra sự thay đổi theo thời gian, phân biệt phản ứng ngắn hạn với dài hạn và xem một cú sốc tăng có nhất thiết tạo hiệu ứng đối xứng với một cú sốc giảm hay không. Điều này đặc biệt quan trọng trong kinh tế môi trường, nơi cùng một yếu tố có thể cho kết quả khác nhau tùy thời gian và phạm vi quan sát.
![]() |
| Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ ngành Kinh tế học của NCS. Nguyễn Thị Quý tại UEL ngày 27/8/2026. Ảnh: UEL. |
Trong phạm vi các quốc gia đang phát triển ở châu Á mà luận án khảo sát, kết quả được công bố cho thấy FDI làm gia tăng suy thoái môi trường trong dài hạn. Đô thị hóa phần lớn gắn với chiều hướng môi trường được cải thiện, còn công nghệ cho kết quả cải thiện nhưng mức tác động không đáng kể. Mức tự do kinh tế cao hơn trong dài hạn đi cùng mức tăng nhẹ phát thải CO₂, trong khi cú sốc công nghệ có vai trò điều tiết mối tương tác giữa kinh tế và môi trường. Những kết quả này cần giữ nguyên phạm vi của luận án; chúng không có nghĩa mọi dự án FDI đều gây ô nhiễm hay mọi quá trình đô thị hóa đều giúp giảm phát thải.
Trước khi hoàn thiện luận án, NCS. Nguyễn Thị Quý đã cùng TS. Hạ Thị Thiều Dao đi sâu hơn vào trường hợp Việt Nam. Công trình đăng tháng 8/2025 trên International Journal of Energy Economics and Policy sử dụng dữ liệu từ năm 1990 đến 2023 và phương pháp kiểm định nhân quả thay đổi theo thời gian để xem xét GDP thực bình quân đầu người, đổi mới công nghệ, tự do kinh tế, độ mở thương mại và phát thải CO₂. Nhóm ghi nhận mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa giữa đổi mới công nghệ, GDP thực bình quân đầu người với phát thải trong giai đoạn khảo sát; quan hệ trực tiếp giữa tự do kinh tế và phát thải khá hạn chế, nhưng trở nên rõ hơn khi xét tương tác với đổi mới công nghệ.
Ở một công trình trước đó về đô thị hóa tại Việt Nam, NCS. Nguyễn Thị Quý và TS. Hạ Thị Thiều Dao sử dụng chuỗi dữ liệu 1986–2021 từ Ngân hàng Thế giới và Cơ quan Năng lượng Quốc tế. Kết quả mô hình ARDL cho thấy đô thị hóa làm tăng phát thải CO₂ trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn của mẫu nghiên cứu, đồng thời GDP bình quân đầu người và biến đại diện cho tiến bộ công nghệ làm thay đổi mức tác động này. Phần công bố đóng góp tác giả xác định NCS. Nguyễn Thị Quý đảm nhiệm phương pháp nghiên cứu, phân tích dữ liệu và trình bày; TS. Hạ Thị Thiều Dao phụ trách tổng quan, cơ sở lý thuyết và phương pháp.
Công nghệ không tự động biến thành tăng trưởng xanh
Đặt các kết quả cạnh nhau cho thấy một điểm cần thận trọng. Nghiên cứu Việt Nam giai đoạn 1986–2021 ghi nhận đô thị hóa đi cùng mức phát thải cao hơn, trong khi kết quả tổng hợp được công bố từ luận án về các nước đang phát triển ở châu Á cho thấy đô thị hóa phần lớn đi cùng cải thiện môi trường. Hai kết quả không nên bị ghép thành một kết luận duy nhất hoặc xem là tự mâu thuẫn, bởi phạm vi quốc gia, khoảng thời gian, biến số và cấu trúc mô hình không giống nhau.
Công nghệ cũng đặt ra vấn đề tương tự. Bài báo về Việt Nam sử dụng đổi mới công nghệ như một biến trong phân tích quan hệ với phát thải và từ kết quả thực nghiệm đề xuất tăng đầu tư vào công nghệ xanh. Trong luận án rộng hơn, tác động cải thiện môi trường của công nghệ lại được ghi nhận ở mức không đáng kể. Vì vậy không có căn cứ để rút gọn chuỗi nghiên cứu thành thông điệp “cứ đầu tư công nghệ là giảm phát thải”. Câu hỏi thực chất hơn là công nghệ nào được hấp thụ, được sử dụng ra sao và tương tác thế nào với cấu trúc kinh tế trong từng bối cảnh.
Chính từ điểm này, luận án đưa ra một số hàm ý cho Việt Nam, gồm chú trọng chất lượng thay vì chỉ quy mô tăng trưởng, nâng vai trò của thể chế trong thực thi chính sách môi trường và tăng khả năng hấp thụ, thích ứng công nghệ thay vì chỉ tập trung nhập khẩu công nghệ mới. Đây là khuyến nghị rút ra từ nghiên cứu, chưa phải kết luận rằng các giải pháp ấy đã được áp dụng hay đã chứng minh hiệu quả trong thực tế.
Trong bài báo năm 2025, hướng phân tích cũng dẫn tới vấn đề công nghệ xanh. Nhưng ở nghiên cứu của NCS. Nguyễn Thị Quý, công nghệ không được sử dụng như một khẩu hiệu chuyển đổi mà trở thành biến cần đo và kiểm tra quan hệ với phát thải. Khác biệt này quan trọng vì một nền kinh tế có thể nhập nhiều thiết bị mới nhưng hiệu quả môi trường còn phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận, cấu trúc sản xuất và các điều kiện đi kèm. Kết nối công nghệ xanh và kinh tế số từ mạng lưới nữ trí thức Việt Nam
![]() |
| NCS. Nguyễn Thị Quý cùng các thành viên Hội đồng sau buổi bảo vệ luận án tiến sĩ ngày 27/8/2026. Ảnh: UEL. |
Việc bảo vệ luận án tháng 8/2026 vì thế chỉ là mốc mới nhất của một hướng nghiên cứu đã được phát triển qua nhiều công trình, thay vì lý do duy nhất để viết về nhân vật. Phần đóng góp có thể xác định ở NCS. Nguyễn Thị Quý nằm ở việc sử dụng các mô hình kinh tế lượng để kiểm tra những quan hệ thường dễ bị diễn giải một chiều: tăng trưởng với môi trường, đô thị hóa với phát thải hay công nghệ với chuyển đổi xanh. Các kết quả chưa tạo ra một công thức chung cho mọi quốc gia, nhưng chúng làm rõ hơn điều cần đo trước khi một nhận định về “tăng trưởng xanh” có thể trở thành kết luận dựa trên dữ liệu.
















Kết nối công nghệ xanh và kinh tế số từ mạng lưới nữ trí thức Việt Nam
Thị trường carbon: 150 doanh nghiệp lớn bước vào cuộc chơi xanh
Hệ đệm carbonat và câu chuyện hấp thụ - phát thải CO₂ ở ven bờ Đông Bắc
Cùng chuyên mục
Đưa phụ phẩm nông nghiệp vào vòng tuần hoàn của cộng đồng
Tăng trưởng kinh tế phải trả giá bằng bao nhiêu phát thải?
Nhà khoa học Việt Nam mang câu chuyện cây thuốc bản địa đến Đại hội Dược học Dân tộc tại Italia
Nghiên cứu sinh Nguyễn Huỳnh Thanh Phương dùng ngôn ngữ truyền thông kể chuyện văn hoá bản địa
Tiến sĩ Lê Thị Tưởng với trăn trở nâng cao nhận thức an toàn thực phẩm cho học sinh, sinh viên
TS. Phạm Minh Trang giảm kim loại trong xúc tác điện phân nước