![]() |
| Tạo hành lang mới cho khoa học, công nghệ và chuyển giao tri thức trong cơ sở giáo dục đại học. Ảnh minh họa: ITN |
Việc Chính phủ ban hành Nghị định 125/2026/NĐ-CP đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong cách tổ chức và vận hành hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại các trường đại học. Không chỉ dừng lại ở khung quản lý, nghị định này hướng tới thiết lập một hệ sinh thái nghiên cứu có tính cạnh tranh, chuyên nghiệp, trong đó các nhóm nghiên cứu được xem là hạt nhân.
Một trong những điểm nhấn của nghị định là quy định rõ ràng về việc hình thành và phát triển hai loại hình: nhóm nghiên cứu tiềm năng và nhóm nghiên cứu mạnh. Các cơ sở giáo dục đại học được trao quyền chủ động căn cứ vào nhu cầu, nguồn lực và chiến lược phát triển để xây dựng các nhóm này, thay vì áp dụng một mô hình cứng nhắc.
Theo quy định, nhóm nghiên cứu tiềm năng phải có tối thiểu 3 thành viên, trong đó trưởng nhóm là giảng viên cơ hữu và có ít nhất 2 thành viên chủ chốt. Đây được xem là “vườn ươm” cho các ý tưởng nghiên cứu, nơi tập hợp những nhà khoa học trẻ hoặc các nhóm mới hình thành, có triển vọng phát triển.
Ở cấp độ cao hơn, nhóm nghiên cứu mạnh yêu cầu tối thiểu 5 thành viên, với trưởng nhóm là nhà khoa học có uy tín học thuật ở tầm khu vực hoặc quốc tế. Không chỉ có năng lực chuyên môn vượt trội, trưởng nhóm còn phải chứng minh khả năng dẫn dắt, quy tụ nhân lực chất lượng cao và xây dựng định hướng nghiên cứu dài hạn. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra các sản phẩm khoa học có giá trị, có thể ứng dụng hoặc thương mại hóa, đồng thời đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội.
Điểm đáng chú ý là nghị định không chỉ dừng ở việc định danh, mà còn đặt ra nguyên tắc vận hành cho các nhóm nghiên cứu. Theo đó, các nhóm phải hướng tới tạo ra sản phẩm khoa học có giá trị học thuật hoặc tiềm năng thương mại, đồng thời mở rộng cơ hội tham gia cho giảng viên, nhà khoa học và người học. Đây cũng là cơ chế để thúc đẩy hợp tác giữa trường đại học với doanh nghiệp, viện nghiên cứu trong và ngoài nước.
Để bảo đảm tính minh bạch và thống nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ ban hành các tiêu chí cụ thể về công nhận, công nhận lại hoặc không công nhận đối với các nhóm nghiên cứu. Các tiêu chí này bao gồm cả chỉ số định lượng như công bố khoa học, sở hữu trí tuệ và các sản phẩm nghiên cứu khác, có tính đến đặc thù của từng lĩnh vực. Đồng thời, một khung quy đổi sản phẩm khoa học cũng sẽ được thiết lập nhằm chuẩn hóa việc đánh giá.
Trên cơ sở đó, các cơ sở giáo dục đại học chịu trách nhiệm triển khai việc công nhận và đánh giá nhóm nghiên cứu thông qua hội đồng khoa học của mình. Cơ chế này gắn liền với quyền tự chủ, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu giải trình rõ ràng. Các trường cũng được khuyến khích xây dựng quy định nội bộ về quy đổi sản phẩm khoa học, với điều kiện không thấp hơn chuẩn chung do nghị định đề ra.
Nghị định cũng thiết lập các giới hạn nhằm bảo đảm chất lượng và tính tập trung của hoạt động nghiên cứu. Cụ thể, một trưởng nhóm không được đồng thời đứng đầu từ hai nhóm nghiên cứu trở lên, và chỉ có thể tham gia thêm tối đa một nhóm khác với vai trò thành viên. Tương tự, thành viên chủ chốt cũng bị giới hạn số lượng nhóm tham gia để tránh tình trạng dàn trải nguồn lực.
Song song với khung tổ chức, hệ thống chính sách ưu đãi được thiết kế như một “đòn bẩy” quan trọng. Đối với nhóm nghiên cứu tiềm năng, Nhà nước ưu tiên giao nhiệm vụ khoa học, hỗ trợ hợp tác quốc tế và tạo điều kiện nâng cao năng lực để phát triển lên nhóm mạnh. Các trưởng nhóm có thể được giảm tới 50% định mức giảng dạy, trong khi thành viên chủ chốt được giảm tới 20%. Đây là yếu tố quan trọng giúp các nhà khoa học có thêm thời gian tập trung cho nghiên cứu.
Ở cấp độ nhóm nghiên cứu mạnh, các ưu đãi được mở rộng đáng kể. Các nhóm này sẽ được ưu tiên tham gia các nhiệm vụ nghiên cứu cấp quốc gia, các dự án liên ngành và hợp tác quốc tế. Đồng thời, họ có cơ hội tham gia tư vấn, chuyển giao công nghệ trong các dự án trọng điểm, cũng như được tiếp cận các phòng thí nghiệm trọng điểm theo cơ chế ưu tiên.
Một điểm mới đáng chú ý là chính sách hỗ trợ phát triển nhân lực. Thành viên của nhóm nghiên cứu mạnh có thể được cử tham gia các chương trình sau tiến sĩ, hoặc làm việc có thời hạn tại các cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước. Điều này mở ra cơ hội tiếp cận tri thức tiên tiến, đồng thời góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của đội ngũ nghiên cứu trong nước.
Ngoài ra, Nhà nước cũng dự kiến lựa chọn một số nhóm nghiên cứu mạnh để đầu tư trọng điểm dài hạn, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên hoặc công nghệ mới nổi. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm hình thành các trung tâm nghiên cứu có tầm ảnh hưởng, đủ sức cạnh tranh trong khu vực.
Ở cấp cơ sở, các trường đại học cũng đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm điều kiện hoạt động cho các nhóm nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu mạnh sẽ được bố trí kinh phí thường xuyên, không gian làm việc và trang thiết bị cần thiết. Các trường cũng có trách nhiệm hỗ trợ huy động nguồn lực ngoài ngân sách để đầu tư cơ sở vật chất và phòng thí nghiệm.
Chính sách giảm tải giảng dạy cũng được áp dụng mạnh mẽ hơn đối với nhóm nghiên cứu mạnh. Trưởng nhóm có thể được giảm tới 80% định mức giảng dạy, trong khi thành viên chủ chốt được giảm tới 50%. Đây là mức hỗ trợ đáng kể, phản ánh định hướng chuyển trọng tâm từ giảng dạy sang nghiên cứu trong các trường đại học.
Tuy nhiên, các ưu đãi này không mang tính cố định mà sẽ được xem xét, điều chỉnh hằng năm dựa trên kết quả hoạt động. Các nhóm nghiên cứu phải chứng minh hiệu quả thông qua sản phẩm đầu ra và mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Cơ chế này nhằm bảo đảm tính cạnh tranh, tránh tình trạng “bao cấp” trong nghiên cứu.
Có thể thấy, Nghị định 125/2026/NĐ-CP không chỉ tạo hành lang pháp lý mà còn thiết kế một hệ thống khuyến khích tương đối toàn diện, từ tổ chức, đánh giá đến tài chính và nhân lực. Nếu được triển khai hiệu quả, đây sẽ là cú hích quan trọng để các trường đại học chuyển mình, trở thành trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo thực sự.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo như một động lực tăng trưởng, việc xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh trong trường đại học không chỉ là yêu cầu nội tại, mà còn là bước đi chiến lược để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.




















Triển khai 1.458 nhiệm vụ khoa học công nghệ trên cả nước
Thêm 53 tiêu chuẩn quốc gia thúc đẩy khoa học công nghệ và chuyển đổi số
Thủ tướng Phạm Minh Chính: Thanh niên phải là lực lượng tiên phong trong khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo nâng tầm vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Việt Nam – Pháp thúc đẩy hợp tác khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo theo lộ trình mới
Khoa học, công nghệ trở thành động lực chủ yếu trong chiến lược phát triển đến năm 2030
Cùng chuyên mục
Từ “quản lý” sang “kiến tạo”: Bộ Khoa học và Công nghệ định hình mô hình điều hành mới sau hợp nhất
Tạo hành lang mới cho khoa học, công nghệ và chuyển giao tri thức trong cơ sở giáo dục đại học
Sun PhuQuoc Airways xác lập vị thế quán quân đúng giờ toàn ngành Quý 1/2026
Đồng chí Trần Thanh Lâm: Đội ngũ người làm báo, xuất bản, văn nghệ sĩ, trí thức tiên phong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Sinh viên Phenikaa khởi động hành trình lãnh đạo từ những dự án thực tiễn
"Điểm chạm học thuật toàn cầu- Góc nhìn mới về giáo dục để phát triển toàn diện