Không chỉ là những câu văn có nghĩa bóng
Nhắc đến “ẩn dụ”, người đọc thường nghĩ đến những hình ảnh so sánh ngầm trong văn chương. “Ẩn dụ ngữ pháp” mà NCS. Nguyễn Thị Bích Hà nghiên cứu lại là một vấn đề khác. Nó liên quan đến cách một nội dung được tổ chức lại về mặt ngữ pháp, khiến cùng một kinh nghiệm hay ý tưởng có thể được diễn đạt dưới những cấu trúc khác nhau.
Ngày 20/9, tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, NCS. Nguyễn Thị Bích Hà bảo vệ luận án tiến sĩ ngành Ngôn ngữ học “Ẩn dụ ngữ pháp trong truyện thiếu nhi Việt Nam”. Công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Bùi Trọng Ngoãn và PGS.TS. Trương Thị Nhàn. Nguyễn Thị Bích Hà hiện công tác tại Trường Đại học Phạm Văn Đồng; thông tin đơn vị này cũng được xác nhận trong các công bố khoa học năm 2026 của chị.
Thay vì chỉ chọn một vài tác phẩm làm ví dụ, nghiên cứu xây dựng ngữ liệu từ 234 tác phẩm truyện thiếu nhi, gồm tác phẩm do người lớn viết cho trẻ em và tác phẩm do chính thiếu nhi sáng tác. Trên nguồn ngữ liệu đó, tác giả nhận diện và phân loại 1.677 trường hợp ẩn dụ ngữ pháp.
Quy mô này quan trọng bởi mục tiêu của luận án không dừng ở việc chỉ ra những câu văn đặc biệt. NCS. Nguyễn Thị Bích Hà khảo sát hiện tượng trên ba phương diện gắn với ba siêu chức năng của ngôn ngữ gồm tư tưởng, liên nhân và văn bản, qua đó tìm cách mô tả ẩn dụ ngữ pháp khi nó hoạt động trong một ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt.
![]() |
| NCS. Nguyễn Thị Bích Hà trình bày luận án về ẩn dụ ngữ pháp trong truyện thiếu nhi Việt Nam tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng ngày 20/9/2026. Ảnh: UED. |
Từ 234 tác phẩm đến một cách phân tích tiếng Việt
Một phần đáng chú ý của nghiên cứu nằm ở sự khác biệt giữa tiếng Việt với nền tảng ngôn ngữ mà lý thuyết này vốn được phát triển. Ngữ pháp chức năng hệ thống và nghiên cứu về ẩn dụ ngữ pháp chịu ảnh hưởng lớn từ những khảo sát trên tiếng Anh. Trong khi đó, tiếng Việt không biến đổi hình thái theo cách của tiếng Anh, nên việc áp dụng nguyên trạng một khung phân tích có thể không mô tả hết các phương tiện từ vựng – ngữ pháp của tiếng Việt.
Luận án vì vậy xây dựng quy trình sáu bước cùng bộ tiêu chí nhận diện và phân loại ẩn dụ ngữ pháp phù hợp với đặc điểm loại hình tiếng Việt. Hội đồng đánh giá luận án ghi nhận đây là một trong những đóng góp của công trình và cho rằng nguồn dữ liệu được xây dựng có thể tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo về ngôn ngữ học chức năng và ngôn ngữ học văn bản.
Một phần của hướng nghiên cứu này đã đi qua phản biện khoa học trước khi luận án được bảo vệ. Tháng 7/2026, bài báo do Nguyễn Thị Bích Hà đứng tên tác giả về danh hóa trong ẩn dụ ngữ pháp tư tưởng được công bố trên Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn. Riêng nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ 234 truyện và xác định 710 trường hợp danh hóa, trong đó danh hóa diễn trình xuất hiện nhiều nhất.
Một công trình khác do Nguyễn Thị Bích Hà và PGS.TS. Bùi Trọng Ngoãn thực hiện, công bố ngày 30/6/2026 trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng, đi vào “phi danh hóa” – những quá trình chuyển đổi ngữ pháp không hướng tới danh từ. Nhóm nghiên cứu nhận diện hai phương thức chính là phi danh hóa diễn trình và phi danh hóa phẩm định.
Hai nhánh này cho thấy luận án không đơn thuần đếm số lần một cấu trúc xuất hiện. Công việc nằm ở việc nhận diện các dạng chuyển đổi, phân loại chúng và xem chúng tham gia vào quá trình tổ chức ý nghĩa trong tiếng Việt như thế nào.
![]() |
| Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ ngành Ngôn ngữ học của NCS. Nguyễn Thị Bích Hà tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng. Ảnh: UED. |
Truyện thiếu nhi trở thành một kho dữ liệu ngôn ngữ
Việc chọn truyện thiếu nhi cũng tạo cho công trình một lớp câu hỏi khác. Văn bản dành cho trẻ không chỉ phải chuyển tải câu chuyện mà còn phải tổ chức cảm xúc, nhân vật và sự kiện sao cho người đọc nhỏ tuổi có thể tiếp nhận. Kết quả luận án cho thấy ẩn dụ ngữ pháp tham gia vào việc kiến tạo hình tượng, cụ thể hóa trạng thái tâm lý, tổ chức mạch tự sự và chuyển tải thông điệp.
Ở đây cần giữ ranh giới giữa kết quả nghiên cứu và ứng dụng. Luận án chưa chứng minh rằng sử dụng một dạng ẩn dụ ngữ pháp cụ thể sẽ làm trẻ đọc hiểu tốt hơn, cũng không phải một thử nghiệm phương pháp dạy tiếng Việt. Giá trị có thể xác nhận hiện nay nằm ở bộ ngữ liệu, hệ thống phân loại và quy trình phân tích, cùng những kết quả mô tả cách ẩn dụ ngữ pháp hoạt động trong truyện thiếu nhi Việt Nam.
Chính giới hạn đó cũng giúp nhìn đúng hơn ý nghĩa ứng dụng của nghiên cứu. Một hệ thống nhận diện tương đối rõ có thể trở thành cơ sở cho nghiên cứu tiếp theo về tiếng Việt, văn bản và văn học thiếu nhi; còn việc chuyển những kết quả này thành phương pháp giảng dạy hay công cụ phân tích tự động sẽ cần các nghiên cứu riêng.
![]() |
| NCS. Nguyễn Thị Bích Hà (áo dài vàng, giữa ảnh) cùng các thành viên Hội đồng đánh giá luận án ngày 20/9/2026. Ảnh: UED. |
Mốc tháng 9/2026 làm công trình đáng chú ý ở thời điểm hiện tại. Sau những bài báo tách từng thành phần của vấn đề, luận án đã đưa chúng vào một khảo sát rộng hơn với 234 tác phẩm và 1.677 trường hợp được phân loại. Hội đồng đã bỏ phiếu thống nhất đề nghị công nhận học vị tiến sĩ cho NCS. Nguyễn Thị Bích Hà sau khi hoàn thiện chỉnh sửa và các thủ tục theo quy định



















Những phép thử khó dành cho AI tiếng Việt
Tiến sĩ Nguyễn Thị Thủy: Người "truyền lửa" ngôn ngữ và bản lĩnh trí thức thời hội nhập
Một cách mở rộng việc đọc và dạy văn học
Tân cử nhân Sư phạm Hà Nội biến nghiên cứu khoa học thành học liệu miễn phí cho người học tiếng Trung
Cùng chuyên mục
Đặt bản dịch của AI cạnh từ điển tài chính
1.677 dấu vết ngôn ngữ trong truyện thiếu nhi Việt Nam
Người bệnh ung thư gan cần biết gì khi điều trị nút mạch?
Sáu vật liệu được đưa vào phép thử cho linh kiện siêu mỏng
Một hướng nghiên cứu mới từ vật liệu carbon và kháng sinh
Đưa giá trị dược liệu Việt vào sản phẩm từ nguyên liệu bản địa