![]() |
| Ảnh minh họa: ITN |
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1951/QĐ-TTg ngày 08/10/2026 phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026 - 2035”.
Hệ thống chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia được định hướng tái cấu trúc theo hướng tinh gọn, phân định rõ mục tiêu, phạm vi và kết quả, đồng thời tăng khả năng liên thông từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng đến phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm.
Phạm vi Đề án bao gồm việc rà soát, tổ chức lại các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia còn hiệu lực do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan Trung ương phê duyệt theo thẩm quyền. Các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia được phê duyệt mới trong quá trình hoàn thiện và triển khai Đề án cũng sẽ được cập nhật để bảo đảm đầy đủ phạm vi, tránh trùng lặp về mục tiêu, nội dung, sản phẩm và nguồn lực.
Trọng tâm của Đề án là tập trung nguồn lực cho việc làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược. Song song với đó là phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách, quản trị quốc gia, phát triển văn hóa, xã hội và con người.
Đề án cũng đặt mục tiêu tăng năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn với các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Qua đó, hệ thống chương trình hướng tới nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, năng lực tự chủ công nghệ, đồng thời phục vụ yêu cầu quốc phòng, an ninh.
30 nhóm nghiên cứu mạnh, 20 sản phẩm công nghệ chiến lược
Trong giai đoạn 2026–2030, 100% chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia thuộc phạm vi Đề án được theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả và hiệu quả trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.
Một mục tiêu đáng chú ý là hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực. Dữ liệu khoa học được định hướng liên thông với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia, các trung tâm đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có liên quan.
Ở khâu phát triển công nghệ và sản phẩm, Đề án đặt mục tiêu hình thành tối thiểu 20 sản phẩm trọng điểm quốc gia và sản phẩm công nghệ chiến lược; phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược. Trong số này, ít nhất 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, mục tiêu đặt ra là thành lập tối thiểu 250 doanh nghiệp trên cơ sở thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, phát triển sản phẩm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ.
Đề án đồng thời hướng tới hỗ trợ tối thiểu 150 sản phẩm, dịch vụ, giải pháp khởi nghiệp sáng tạo tham gia thử nghiệm, ứng dụng và nhân rộng; hỗ trợ tối thiểu 150 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoàn thiện quy trình, phát triển sản phẩm mẫu đưa vào sản xuất. Vốn đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo được đặt mục tiêu đạt tối thiểu bằng 100% tổng kinh phí ngân sách nhà nước đã cấp thực hiện Chương trình quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo.
6 nhóm chương trình, không phát sinh cấp quản lý mới
Trong giai đoạn 2026–2035, hệ thống các chương trình thuộc phạm vi Đề án được tổ chức thành 6 nhóm gồm: phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; nghiên cứu cơ bản; trọng điểm quốc gia; đổi mới sáng tạo quốc gia; quốc gia đặc biệt; và chuyển đổi số quốc gia.
Việc phân nhóm nhằm xác định các hướng ưu tiên, tập trung nguồn lực, tăng cường liên thông, theo dõi, đánh giá và điều phối ở quy mô quốc gia. Cách tổ chức này không làm phát sinh loại hình chương trình mới, cấp quản lý trung gian, hồ sơ hoặc thủ tục hành chính mới; đồng thời không thay đổi thẩm quyền xây dựng, thẩm định, phê duyệt, quản lý và tổ chức thực hiện chương trình theo quy định pháp luật.
Trong nhóm phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tổ chức nghiên cứu, nhóm nghiên cứu mạnh, hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu và hạ tầng kỹ thuật dùng chung. Kết quả hướng tới là các nhóm nghiên cứu đạt trình độ khu vực và quốc tế, cùng mạng lưới hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đầu tư đồng bộ và khai thác hiệu quả.
Nhóm chương trình nghiên cứu cơ bản tập trung tạo ra tri thức mới, phát triển nền tảng khoa học quốc gia và cung cấp luận cứ cho hoạch định đường lối, chính sách. Các hướng nghiên cứu bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có nghiên cứu cơ bản định hướng theo các ưu tiên quốc gia.
Kết quả của nhóm này không chỉ là các công bố khoa học, phát hiện mới, sách chuyên khảo và cơ sở dữ liệu mà còn bao gồm kiến nghị chính sách, nhân lực khoa học trình độ cao, tài sản trí tuệ và những kết quả có khả năng chuyển tiếp sang giai đoạn ứng dụng, phát triển công nghệ.
Với nhóm chương trình trọng điểm quốc gia, nguồn lực được tập trung để giải quyết các bài toán khoa học và công nghệ lớn, liên ngành, liên lĩnh vực, có tác động quan trọng tới kinh tế - xã hội, quản trị quốc gia, văn hóa, xã hội, con người, quốc phòng và an ninh. Các chương trình có thể bao gồm cụm nhiệm vụ và nhiệm vụ liên ngành nhằm nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, mô hình và các giải pháp kỹ thuật, quản lý, xã hội.
Đưa kết quả nghiên cứu đến ứng dụng và thương mại hóa
Nhóm chương trình đổi mới sáng tạo quốc gia được định hướng hỗ trợ cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp từ ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ đến phát triển sản phẩm và thương mại hóa.
Phạm vi hỗ trợ bao gồm phát triển thị trường khoa học và công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, tài sản trí tuệ, năng suất và chất lượng. Chuỗi hoạt động được kết nối từ hoàn thiện, kiểm chứng, ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ đến phát triển sản phẩm, thương mại hóa và mở rộng thị trường.
Một trọng tâm khác là phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tổ chức trung gian và các điều kiện nền tảng, ưu tiên những ngành, lĩnh vực, công nghệ chiến lược và các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo định hướng này, kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ được kỳ vọng không dừng ở khâu nghiên cứu mà tiếp tục được hoàn thiện, kiểm chứng, chuyển giao, ứng dụng và thương mại hóa. Doanh nghiệp được hỗ trợ nâng cao năng lực ứng dụng, làm chủ và đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm, tăng năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh.
Tài sản trí tuệ cũng được đặt trong chuỗi từ tạo lập, bảo hộ, quản lý, khai thác đến thương mại hóa. Cùng với đó là phát triển tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật và các điều kiện nền tảng phục vụ đổi mới sáng tạo.
Ưu tiên công nghệ lõi, công nghệ chiến lược
Nhóm chương trình quốc gia đặc biệt tập trung vào những mục tiêu có quy mô lớn và ý nghĩa đặc biệt đối với phát triển công nghệ chiến lược, nghiên cứu chiến lược và chính sách có giá trị lớn, các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, cũng như nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa trong nước, quốc phòng và an ninh.
Trong nhóm này có các chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, tập trung vào làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.
Chuỗi nhiệm vụ được triển khai từ nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, hoàn thiện đến ứng dụng và thương mại hóa. Cùng với đó là xây dựng, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các điều kiện kỹ thuật phục vụ làm chủ, ứng dụng, sản xuất và thương mại hóa công nghệ, sản phẩm chiến lược.
Các chương trình thuộc nhóm này được áp dụng cơ chế đầu tư, tài chính, quản lý đặc thù và quản trị rủi ro theo quy định của pháp luật. Kết quả kỳ vọng gồm làm chủ, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ lõi, công nghệ chiến lược; hình thành năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp, sản xuất trong nước và tài sản trí tuệ của Việt Nam.
Chuyển đổi số được tổ chức thành một nhóm chương trình riêng
Nhóm chương trình chuyển đổi số quốc gia nhằm thực hiện các mục tiêu, định hướng của Chiến lược quốc gia về Chuyển đổi số và Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, thúc đẩy chuyển đổi số đồng bộ, liên thông trên phạm vi cả nước.
Nhóm này hướng tới phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và nâng cao năng lực quản trị quốc gia trên môi trường số. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia bao gồm các nội dung, nhiệm vụ về chuyển đổi số, trong đó có những nhiệm vụ liên ngành, liên vùng do cơ quan quản lý nhà nước về chuyển đổi số xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành theo từng thời kỳ, phù hợp với Chiến lược quốc gia về Chuyển đổi số.
Các kế hoạch chuyển đổi số của bộ, ngành, địa phương được xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện theo pháp luật về chuyển đổi số. Kết quả hướng tới là triển khai đồng bộ các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ của Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, tăng cường liên thông giữa các bộ, ngành, địa phương, nâng cao hiệu quả hoạt động trên môi trường số và bảo đảm an toàn, an ninh trong quá trình chuyển đổi số.





















Hàng loạt chính sách mới mở đường cho nhân tài khoa học công nghệ
Luật Thủ đô sửa đổi mở “đường băng” cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo
Doanh nghiệp được khuyến khích lập quỹ khoa học công nghệ để thúc đẩy đổi mới sáng tạo
Triển khai 1.458 nhiệm vụ khoa học công nghệ trên cả nước
Diễn đàn khoa học, công nghệ 2026 đặt trọng tâm vào kết quả thực chất
Chính sách khoa học, công nghệ đáng chú ý có hiệu lực từ tháng 10/2026
Cùng chuyên mục
6 nhóm chương trình khoa học, công nghệ quốc gia và mục tiêu hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh
Việt Nam có 9 nhà khoa học lọt top 10.000 người có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2026
5 nữ lãnh đạo Việt trong Top 100 phụ nữ quyền lực nhất châu Á 2026
Ngoài Hồ Gươm, Hồ Tây, Hà Nội thêm điểm bắn pháo hoa thứ ba dịp 10/10 do Sun Group tài trợ
Chi bộ Tạp chí điện tử Phụ nữ Mới tổ chức Lễ kết nạp đảng viên mới
Vingroup và Alstom hợp tác công nghệ phát triển tuyến đường sắt đô thị Hà Nội thế hệ mới