![]() |
| PGS.TS. Nguyễn Phương Thảo, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, trong một hoạt động chuyên môn về giáo dục tại Cà Mau tháng 6/2026. Ảnh: Thái Sơn/Báo và Phát thanh, Truyền hình Cà Mau. |
Đo cách học sinh sử dụng kiến thức
Một bài kiểm tra Toán quen thuộc thường đặt học sinh trước một hệ thống câu hỏi đã xác định rõ dữ kiện và yêu cầu, sau đó điểm số được tính từ những câu trả lời đúng. Cách làm này thuận lợi cho tổ chức kiểm tra, nhưng không phải lúc nào cũng cho thấy đầy đủ học sinh sử dụng kiến thức ra sao khi phải xử lý một nhiệm vụ có bối cảnh, lựa chọn cách giải hoặc giải thích quá trình đi đến kết quả.
Đó là khoảng trống mà nhóm nghiên cứu do PGS.TS. Nguyễn Phương Thảo, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia TP.HCM, tập trung vào khi nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng đánh giá xác thực trong dạy học Toán ở bậc trung học phổ thông. Thay vì chỉ thay dạng câu hỏi, nhóm tiếp cận đánh giá như một quá trình trong đó nhiệm vụ học tập, tiêu chí chấm, quan sát của giáo viên và phản hồi của học sinh được kết nối với nhau.
Trong giáo dục, đánh giá xác thực hướng tới việc đặt người học vào những nhiệm vụ đòi hỏi vận dụng kiến thức và kỹ năng trong một bối cảnh có ý nghĩa, thay vì chủ yếu tái hiện nội dung đã học. Với môn Toán, cách tiếp cận này có thể mở rộng đối tượng được quan sát từ đáp án cuối cùng sang cách học sinh lựa chọn phương án, lập luận, tạo sản phẩm hoặc tham gia một nhiệm vụ học tập.
Nhóm của PGS.TS. Nguyễn Phương Thảo sử dụng nhiều phương pháp gồm phân tích tài liệu, khảo sát, lấy ý kiến chuyên gia, thực nghiệm sư phạm, thống kê và phân tích định tính. Kết quả được công bố cho thấy các hình thức kiểm tra truyền thống vẫn được sử dụng phổ biến, trong khi tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng, đánh giá thông qua sản phẩm và dự án chưa được triển khai thường xuyên.
Từ thực trạng đó, nhóm xây dựng một quy trình thiết kế đánh giá xác thực gồm năm bước, ba biện pháp sử dụng cùng một bộ công cụ hỗ trợ. Bộ công cụ không chỉ có phiếu giao nhiệm vụ mà còn gồm bảng tiêu chí đánh giá, phiếu quan sát, phiếu để học sinh tự đánh giá, phiếu đánh giá giữa các học sinh và bảng tổng hợp kết quả.
![]() |
| PGS.TS. Nguyễn Phương Thảo (bên phải) nhận quyết định bổ nhiệm Phó Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang tháng 9/2026. Ảnh: Phương Lan/Báo và Phát thanh, Truyền hình An Giang. |
Bảng tiêu chí, thường được gọi là rubric, giữ vai trò quan trọng trong cách tiếp cận này. Một sản phẩm hoặc nhiệm vụ không chỉ nhận một con số cuối cùng mà được xem xét theo những tiêu chí đã xác định trước. Giáo viên có cơ sở để nhận xét từng phần của quá trình thực hiện, trong khi học sinh có thể biết mình đang được đánh giá ở những khía cạnh nào và đối chiếu công việc với yêu cầu đã đặt ra.
Việc đưa tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng vào cùng hệ thống cũng làm thay đổi vai trò của học sinh. Các em không còn chỉ chờ giáo viên chấm bài mà phải đọc tiêu chí, xem lại sản phẩm của mình hoặc của bạn và đưa ra nhận xét. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa quyền đánh giá được chuyển từ giáo viên sang học sinh. Những công cụ trên chủ yếu tạo thêm thông tin về quá trình học và chỉ có ý nghĩa khi tiêu chí đủ rõ, giáo viên hướng dẫn cách sử dụng và kết quả được kiểm soát nhất quán.
Từ 140 công trình đến một bộ công cụ cho lớp học
Một phần nền tảng của hướng nghiên cứu này đã được nhóm của PGS.TS. Nguyễn Phương Thảo đặt trong bức tranh rộng hơn về đánh giá xác thực ở giáo dục trung học. Trong một công bố quốc tế năm 2026, bà là tác giả liên hệ của nghiên cứu phân tích thư mục 140 tài liệu được lựa chọn từ cơ sở dữ liệu Scopus, trải từ năm 1993 đến 2024.
Từ 584 tài liệu tìm thấy ban đầu, nhóm sàng lọc còn 140 công trình phù hợp với phạm vi nghiên cứu. Kết quả cho thấy số nghiên cứu về đánh giá xác thực ở giáo dục trung học tăng rõ trong giai đoạn gần đây, đặc biệt từ năm 2017. Các công trình tập trung vào những hướng như hình thức đánh giá thay thế gắn với học tập tích cực, giáo dục toàn diện, phát triển phẩm chất và việc sử dụng công nghệ trong những cách đánh giá mới.
![]() |
| Số lượng công trình và lượng trích dẫn trong tập dữ liệu nghiên cứu về đánh giá xác thực ở giáo dục trung học giai đoạn 1993–2024. Nguồn: Nguyễn Phương Thảo và cộng sự, European Journal of Educational Research, 2026. |
Phân tích này không chứng minh một phương pháp đánh giá cụ thể sẽ cải thiện kết quả học tập của học sinh Việt Nam. Giá trị của nó nằm ở việc nhận diện cách một lĩnh vực nghiên cứu đã phát triển, những chủ đề đang được quan tâm và khoảng trống còn tồn tại trong mạng lưới nghiên cứu. Từ nền tổng quan đó, đề tài tại Trường Đại học An Giang đi xuống một cấp độ cụ thể hơn là xây dựng công cụ có thể sử dụng trong dạy học Toán ở trường phổ thông.
Đánh giá xác thực cũng không đồng nghĩa với việc bỏ bài kiểm tra viết hoặc biến mọi nội dung thành dự án. Một hệ thống đánh giá năng lực vẫn có thể sử dụng nhiều loại công cụ khác nhau. Vấn đề nhóm nghiên cứu đặt ra là bổ sung những hình thức cho phép quan sát khả năng vận dụng, sản phẩm và quá trình thực hiện ở những nội dung phù hợp, thay vì để toàn bộ kết quả học tập được đại diện bởi một dạng kiểm tra.
Hồ sơ nghiệm thu cho biết khảo sát chuyên gia đánh giá các nội dung đề xuất có mức độ phù hợp, cần thiết và khả thi cao. Nhóm cũng thực hiện thực nghiệm sư phạm, đồng thời công bố một bài báo quốc tế được lập chỉ mục Scopus và có hai bài trong nước đã được chấp nhận đăng. Ba sinh viên hoàn thành khóa luận trong quá trình triển khai đề tài.
Tuy vậy, tài liệu kết quả được công bố hiện chưa cung cấp cỡ mẫu khảo sát, số học sinh và trường tham gia thực nghiệm, cách phân nhóm, các chỉ số trước và sau thực nghiệm hay mức độ chênh lệch giữa các nhóm. Vì thế, chưa có căn cứ từ dữ liệu công khai để nói bộ công cụ này đã giúp học sinh học Toán tốt hơn, làm tăng điểm số hay tạo ra một mức cải thiện năng lực cụ thể.
Khoảng trống dữ liệu này đặc biệt quan trọng với một nghiên cứu về đánh giá. Một bộ tiêu chí có thể được chuyên gia nhận xét là phù hợp nhưng khi áp dụng ở nhiều lớp học vẫn cần kiểm tra giáo viên khác nhau có chấm một sản phẩm tương đối nhất quán hay không, học sinh có hiểu đúng tiêu chí không và khối lượng công việc phát sinh có phù hợp với điều kiện dạy học thực tế.
Đề tài hiện được xếp vào loại nghiên cứu cơ bản và không có sản phẩm cứng. Vì vậy, kết quả thích hợp nhất để nhìn nhận ở thời điểm này là một quy trình, các biện pháp và bộ công cụ đã được xây dựng, khảo sát chuyên gia và đưa vào thực nghiệm sư phạm, chứ chưa phải một mô hình đánh giá đã được triển khai phổ biến tại các trường THPT.
Nếu tiếp tục được thử nghiệm trên nhiều nhóm học sinh và điều kiện trường học khác nhau, những dữ liệu cần thiết tiếp theo sẽ không chỉ là điểm số. Độ ổn định giữa những người chấm, thời gian giáo viên phải bỏ ra, khả năng học sinh sử dụng bảng tiêu chí, chất lượng phản hồi đồng đẳng và mức độ thực hiện được trong lịch học thông thường đều là những yếu tố giúp xác định bộ công cụ có thể đi xa đến đâu trong thực tế giáo dục.

















Khi giờ Vật lý không chỉ để nghe giảng
Chuyên gia nhận định: Đề thi Toán tốt nghiệp THPT 2026 tiến gần hơn với tư duy đại học
Phụ huynh vào lớp, cùng con trải nghiệm một tiết học mở
Cùng chuyên mục
Nước dùng để sản xuất chip phải sạch đến mức nào?
Bài kiểm tra Toán không chỉ để tìm một đáp án đúng
Sáu hợp chất mới được tìm thấy từ cây dủ dẻ trâu
Văn hóa thay đổi thế nào khi đời sống cộng đồng đổi khác
Toán tối ưu giải những bài toán nào trong trí tuệ nhân tạo?
15 epitope được chọn cho ứng viên vắc-xin ung thư phổi