Chuyên gia phân tích nguyên nhân dẫn đến tình trạng sạt lở ở miền Trung

Ông Trịnh Xuân Hòa, Phó viện trưởng Khoa học Địa chất và Khoáng sản cho rằng, mất rừng tự nhiên là một trong nguyên nhân sạt lở núi.

Trao đổi với VnExpress về tình trạng sạt lở đất ở miền Trung thời gian qua, ông Trịnh Xuân Hòa, Phó viện trưởng Khoa học Địa chất và Khoáng sản (Bộ Tài nguyên và Môi trường), đơn vị thực hiện đề án "Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo trượt lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam" cho biết mưa lớn và kéo dài, địa hình dốc, mất rừng tự nhiên... là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên. 

Cụ thể, về nguyên nhân tự nhiên, mưa là yếu tố đầu tiên kích hoạt sạt lở. Theo nghiên cứu, chỉ cần mưa với độ khoảng 100 mm hoặc nhỏ hơn nhưng kéo dài liên tục hàng chục ngày là đủ khiến đất đá bị bão hòa nước.

  TS Trịnh Xuân Hoà.  Ảnh: Gia Chính

TS Trịnh Xuân Hoà.  Ảnh: Gia Chính

Ông Hòa nói: "Đợt vừa qua có thể thấy mưa liên tục nhiều ngày, nhiều nơi thậm chí ghi nhận lượng mưa chưa từng có lên tới hơn 2.000 mm. Lượng mưa lớn như vậy đã gây ra lũ quét kéo theo sạt lở đất. 

Ngoài ra, địa hình các tỉnh miền Trung thấp dần ra biển nhưng khá đột ngột, tạo ra độ dốc 14-32 %, cộng với địa chất phức tạp, lớp vỏ phong hóa dày; thảm phủ chủ yếu là rừng trồng, rừng tái sinh cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng sạt lở nghiêm trọng.

Tiếp theo là các hoạt động nhân sinh như phá rừng, mở đường, xây dựng công trình... đã thúc đẩy quá trình tai biến địa chất. Để làm đường, làm công trình thì phải bạt núi, xẻ taluy dẫn tới mất chân và mất ổn định sườn dốc, tạo độ dốc cao hơn, mất thảm thực vật dẫn tới nguy cơ sạt lở. Thực tế cho thấy các điểm sạt lở tập trung ở sườn các dãy núi, nơi dân cư sinh sống hoặc dọc các tuyến đường, các công trình nhân tạo.

Mất rừng tự nhiên cũng là nguyên nhân dẫn tới sạt lở. Nhiều nơi tỷ lệ che phủ của rừng lên tới 70-80%, nhưng khả năng giữ nước của rừng tái sinh, rừng trồng rất hạn chế so với rừng tự nhiên. Rừng trồng đa phần là keo, sau một vài năm họ thu hoạch rồi lại trồng cây mới khiến liên kết đất yếu, hệ thống rễ cây trồng này cũng không phát triển để giữ lại nước".

5 vụ sạt lở trong 1 tháng qua đã vùi lấp nhiều người dân, cán bộ, chiến sĩ... tất cả những khu vực này đều có những đặc điểm chung về địa hình, địa chất, rừng và đã có cảnh bảo nguy cơ trượt lở đất đá cao. 

Ông Hòa cũng dẫn chứng vụ sạt ở Trà Vân (Quảng Nam) xảy ra trên địa hình có độ cao 600 đến 900 m, khu vực có nguồn gốc bóc mòn, xâm thực, độ dốc sườn tự nhiên 20-30%; thảm thực vật chủ yếu là rừng trồng với độ che phủ khoảng 65-70%; mạng lưới khe suối đa phần ngắn và dốc, thung lũng suối hẹp ở thượng nguồn, tiết diên ngang hình chữ "V" là những yếu tố nguy cơ cao xảy ra trượt lở, đã được cảnh báo. 

"Trong diện tích khu vực trượt lở ở thôn 1, xã Trà Vân có sự phân bố của đứt gãy chạy theo phương Đông Bắc - Tây Nam và gần nút giao với đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam. Các khe nứt này đã làm cho đá của khu vực bị cà nát, đập vỡ khiến kết cấu của đất yếu, đồng thời tạo điều kiện cho quá trình phong hóa phát triển sâu 20 đến 30 m. Vỏ phong hóa này giàu khoáng sét khi gặp nước sẽ nhanh chóng bị chảy nhão tạo thành lũ quét, sạt lở", ông Hòa nói.

Nói về các giải pháp giúp nâng cao khả năng cảnh báo cũng như ứng phó với sạt lở đất đá, ông Hòa cho rằng hiệu quả nhất là lắp đặt hệ thống máy quan trắc đa thiên tai. Hệ thống này có thể đưa ra dự báo gần như sát với thực tế. Tuy nhiên, hiện cả nước mới chỉ đầu tư được khoảng 10 máy cho những vùng nhất định, do có nhiều điểm có nguy cơ trượt lở ở Việt Nam rất nhiều, nên việc lắp đặt máy móc này ở khắp các nơi là không khả thi.

Ông Hòa nhấn mạnh: "Trước mắt ta có thể học hỏi kinh nghiệm của Thái Lan là trang bị cho mỗi làng, bản một cột đo mưa, khi mưa đến một mức nhất định thì di chuyển người dân đến nơi an toàn. Phương pháp này vừa đỡ tốn kém và dễ dàng triển khai. Ngoài ra, hiện bản đồ phân vùng cảnh báo đã được chuyển đến các địa phương, cơ quan quản lý cần dựa trên bản đồ này nhận biết khu vực nguy cơ cao xảy ra trượt lở để không bố trí định cư, định canh và di dời dân đến nơi an toàn.

Ở mỗi địa phương cần lập vùng tương đối an toàn dựa trên bản đồ để khi có nguy cơ xảy ra thiên tai thì dễ dàng sơ tán người dân đến. Đồng thời khi quy hoạch sử dụng đất cần đặt mục tiêu bảo vệ rừng đầu nguồn lên đầu, trồng rừng ở những nơi có nguy cơ xảy ra trượt lở đất đá".

Thanh Mai

Trung Bộ mưa dông diện rộng, cảnh báo lũ quét, sạt lở đất

Trung Bộ mưa dông diện rộng, cảnh báo lũ quét, sạt lở đất

Các tỉnh từ Nghệ An đến Quảng Trị có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to với lượng mưa phổ biến 40-90mm, có nơi trên 120mm.