![]() |
| TS. Bá Thị Châm, Nghiên cứu viên chính, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển thuốc, Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. |
Các công nghệ ứng dụng trong bào chế thảo dược được nhóm nghiên cứu của TS. Bá Thị Châm phát triển từ khoảng 10 năm trước. Trong quá trình nghiên cứu và đưa sản phẩm ra thị trường, các quy trình tiếp tục được điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng, đồng thời giảm chi phí sản xuất để sản phẩm có giá thành phù hợp hơn với người sử dụng.
Ba hướng công nghệ được tập trung gồm lên men để tăng cường hoạt chất trong dược liệu, chiết xuất và tinh chế chọn lọc bằng phương pháp hóa học, cùng công nghệ nano nhằm cải thiện độ tan, khả năng hấp thu và sinh khả dụng của hoạt chất.
Làm rõ giá trị của công nghệ lên men
Lên men vốn là kỹ thuật đã xuất hiện từ lâu trong kinh nghiệm sử dụng và bào chế dược liệu. Điểm mới trong nghiên cứu hiện đại là xác định rõ hơn cơ chế của quá trình, vai trò của các chủng vi sinh vật và sự tham gia của enzyme nội sinh trong dược liệu.
Việc kiểm soát những yếu tố này cho phép quá trình lên men được thực hiện theo hướng chủ động hơn, từ đó tác động đến sự chuyển hóa và hàm lượng các hoạt chất trong nguyên liệu.
Tỏi đen và trà lên men là hai ví dụ được nhóm nghiên cứu phát triển từ những kỹ thuật vốn đã quen thuộc. Thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền thống, các quy trình được nghiên cứu, kiểm soát và điều chỉnh để tạo ra sản phẩm có chất lượng ổn định, phù hợp với nhu cầu sử dụng hiện nay.
Cùng với lên men, nhóm xây dựng cơ sở dữ liệu về các hoạt chất trong dược liệu thông qua nghiên cứu và các công bố khoa học. Đây là nền tảng để xác định nguyên liệu phù hợp, lựa chọn hoạt chất có hoạt tính sinh học và xây dựng quy trình chiết xuất.
Công nghệ chiết xuất chọn lọc cho phép tập trung vào những nhóm hoạt chất cần thiết thay vì sử dụng toàn bộ thành phần của nguyên liệu. Một số kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này đã được bảo hộ dưới dạng bằng sáng chế và giải pháp hữu ích.
Nano hóa để tăng khả năng hấp thu
Một hạn chế phổ biến của nhiều hoạt chất tự nhiên là độ tan thấp, từ đó ảnh hưởng đến khả năng hấp thu và sinh khả dụng. Công nghệ nano được nhóm nghiên cứu lựa chọn để giải quyết một phần hạn chế này, đồng thời tạo ra dạng bào chế thuận tiện hơn cho quá trình sản xuất và sử dụng.
Việc kết hợp các công đoạn lên men, chiết xuất chọn lọc và nano hóa được thể hiện rõ trong quá trình phát triển viên mầm đậu nành.
Trong một chuyến khảo sát thực tế tại Lào Cai, nhóm nghiên cứu chú ý đến một giống đậu tương được người dân địa phương gọi là “đỗ tương rau”. Qua phân tích, loại đậu tương này có hàm lượng protein thấp nhưng hàm lượng isoflavone cao. Đặc điểm này trở thành cơ sở để nhóm lựa chọn nguyên liệu và phát triển sản phẩm.
Nhóm phối hợp với người dân địa phương xây dựng nguồn nguyên liệu, sau đó tiến hành nảy mầm, lên men, chiết xuất chọn lọc nhóm hoạt chất isoflavone và nano hóa. Quy trình này tạo ra sản phẩm viên mầm đậu nành được thương mại hóa.
![]() |
Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng daidzein và genistein trong loại đậu tương nói trên cao hơn so với đậu tương thông thường trên thị trường. Sau khi nảy mầm và lên men, hàm lượng các hoạt chất tiếp tục tăng, có thời điểm cao hơn khoảng ba lần so với nguyên liệu ban đầu. Cao chiết thu được sau công đoạn chiết xuất chọn lọc được sử dụng làm nguyên liệu cho sản phẩm.
Viên mầm đậu nành cũng là công trình mang lại cho TS. Bá Thị Châm Giải thưởng Phụ nữ sáng tạo năm 2017 của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Đằng sau sản phẩm này còn có một câu chuyện cá nhân. Nữ nhà khoa học cho biết từng gặp khó khăn về khả năng sinh sản và đã áp dụng nhiều phương pháp can thiệp nhưng chưa đạt kết quả như mong muốn. Sau khoảng sáu tháng sử dụng sản phẩm, bà mang thai và sinh con.
“Với tôi, việc tạo ra sản phẩm mầm đậu nành có ý nghĩa đặc biệt, bởi đó không chỉ là một kết quả nghiên cứu mà còn gắn với mong muốn tạo ra sản phẩm có ích cho phụ nữ và cộng đồng”, bà chia sẻ.
Trải nghiệm cá nhân này là động lực đối với nhà nghiên cứu, nhưng không thể được xem là bằng chứng khoa học để khẳng định hiệu quả của sản phẩm. Việc đánh giá tác dụng của các sản phẩm từ thảo dược vẫn cần dựa trên dữ liệu nghiên cứu, quá trình chuẩn hóa nguyên liệu, kiểm soát quy trình sản xuất và các phương pháp đánh giá khoa học phù hợp.
Từ nghiên cứu đến sản phẩm thương mại
Việc đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường là một trong những hướng được nhóm theo đuổi song song với hoạt động khoa học. Từ các quy trình đã phát triển, một số sản phẩm đã được thương mại hóa, gồm viên mầm đậu nành, tỏi đen, trà lên men và mật ong lên men.
Nếu tỏi đen là sản phẩm đã được phát triển từ trước, trà lên men và mật ong lên men là những hướng sản phẩm mới hơn của nhóm. Các sản phẩm được phát triển với định hướng phục vụ nhu cầu sử dụng trong đời sống, trong đó có chăm sóc hệ tiêu hóa.
![]() |
Quá trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm cũng đem lại một số kết quả trong các hoạt động sáng tạo. Năm 2017, công trình của TS. Bá Thị Châm nhận Giải thưởng Phụ nữ sáng tạo của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Hai năm sau, bà tham gia triển lãm sáng chế của phụ nữ Việt Nam tại Hàn Quốc và nhận huy chương bạc.
Những kết quả này cho thấy hướng phát triển thảo dược có thể đi từ nguồn nguyên liệu bản địa, thông qua nghiên cứu hoạt chất và hoàn thiện công nghệ, đến sản phẩm cụ thể trên thị trường. Trong chuỗi đó, việc bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định và kiểm soát chất lượng đóng vai trò quan trọng không kém việc phát triển công nghệ bào chế.
Bảo tồn nguồn gen, giảm chi phí sản xuất
Trong giai đoạn tiếp theo, nhóm nghiên cứu đặt trọng tâm vào việc tìm kiếm các hoạt chất mới từ nguồn dược liệu, bảo tồn và duy trì các nguồn gen quý, đồng thời ổn định vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất.
Cùng với đó là tiếp tục cải tiến quy trình, sử dụng enzyme hiệu quả hơn và giảm chi phí sản xuất. Mục tiêu không chỉ tạo ra những sản phẩm có hàm lượng hoạt chất phù hợp mà còn nâng độ ổn định của sản phẩm và đưa giá thành về mức có thể tiếp cận rộng hơn.
Hướng nghiên cứu này đặt công nghệ trong toàn bộ chuỗi phát triển thảo dược, từ bảo tồn nguồn gen, lựa chọn và chuẩn hóa nguyên liệu, nghiên cứu hoạt chất, lên men, chiết xuất, bào chế đến sản xuất và thương mại hóa.
Sự kết hợp giữa kinh nghiệm của y học cổ truyền với các phương pháp nghiên cứu và công nghệ hiện đại vì vậy không chỉ nhằm tạo ra sản phẩm mới, mà còn hướng tới khai thác có cơ sở khoa học hơn giá trị của nguồn dược liệu Việt Nam.




















Dự án Trà thảo mộc SAMMAX của nhóm TS Bá Thị Châm đoạt Giải Nhì Khởi nghiệp quốc gia 2025
Sản phẩm cải thiện nội tiết tố nữ Flavon Angelia của Tiến sĩ Bá Thị Châm
Đồi thảo dược của nhà khoa học Bá Thị Châm
TS Bá Thị Châm: “Sản phẩm của tôi có nguồn gốc dược liệu sạch và chất lượng được đánh giá tương đương với hàng ngoại nhập”
TS Bá Thị Châm: Bảo tồn và nâng tầm cây thuốc bản địa ở Việt Nam
Cùng chuyên mục
Công nghệ cao nâng giá trị thảo dược Việt Nam
Dùng tín hiệu ánh sáng nhận biết hai thuốc bảo vệ thực vật
Công nghệ in phun nano giảm một nửa chi phí chế tạo vi linh kiện
Từ một loài hoa bản địa đến chuỗi giá trị mới cho phụ nữ nông thôn
TS. Tôn Nữ Quỳnh Trang dùng vải cotton dò chất màu trên tôm
PGS.TS Nguyễn Minh Tân: Biến phụ phẩm thành giá trị, đưa chế biến sâu về vùng nguyên liệu