![]() |
| ThS. Mai Thị Ngọc Kiều, điều dưỡng Khoa Ngoại Gan - Mật - Tụy, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM. Ảnh: UMC. |
Với người bệnh ung thư gan được điều trị bằng phương pháp nút mạch hóa chất qua động mạch, việc rời phòng can thiệp chưa phải là lúc những câu hỏi kết thúc. Ăn uống thế nào, nên vận động và nghỉ ngơi ra sao, khi nào cần quay lại bệnh viện, những triệu chứng nào phải chú ý hay thuốc sau điều trị cần sử dụng thế nào đều là những việc người bệnh phải tiếp tục xử lý trong đời sống hằng ngày.
Một nghiên cứu vừa được Scientific Reports công bố ngày 18/9/2026 đã khảo sát trực tiếp những thông tin mà nhóm người bệnh này muốn được hướng dẫn. Công trình do Thạc sĩ điều dưỡng Mai Thị Ngọc Kiều, Khoa Ngoại Gan - Mật - Tụy, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, đứng tên đầu và đồng thời là tác giả liên hệ. Bài báo cũng ghi nhận bà thuộc Đại học Y Dược TP.HCM và Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM.
Thay vì đánh giá một loại thuốc hay kỹ thuật can thiệp mới, nhóm nghiên cứu đi vào một phần ít được nhìn thấy hơn của quá trình điều trị: người bệnh thực sự cần biết gì để tự chăm sóc sau nút mạch. Đây là câu hỏi gắn trực tiếp với công việc điều dưỡng, bởi khoảng thời gian người bệnh tiếp xúc với nhân viên y tế tại bệnh viện có giới hạn, trong khi phần lớn việc theo dõi và chăm sóc sau đó diễn ra ở nhà.
Ăn uống và tái khám đứng đầu nhu cầu thông tin
Nghiên cứu được thực hiện trên 125 người mắc ung thư biểu mô tế bào gan được điều trị bằng nút mạch hóa chất qua động mạch, thường được gọi bằng chữ viết tắt TACE. Dữ liệu được thu từ tháng 1 đến tháng 3/2025 tại một bệnh viện công ở TP.HCM bằng bảng hỏi điện tử. Đây là nghiên cứu cắt ngang và người tham gia được tuyển theo phương pháp thuận tiện.
Ba nhóm thông tin nổi lên rõ nhất. Có 89,6% người tham gia báo cáo nhu cầu cao về hướng dẫn ăn uống, 88,8% có nhu cầu cao về thông tin liên quan đến tái khám và 88% muốn được hướng dẫn nhiều hơn về vận động, nghỉ ngơi.
Những tỷ lệ này cần được hiểu đúng. Nghiên cứu đo nhu cầu được cung cấp thông tin, không đo tỷ lệ người bệnh thiếu kiến thức và càng không có nghĩa gần 90% người bệnh đang ăn uống hoặc tự chăm sóc sai. Một người đã được giải thích trước đó vẫn có thể muốn được hướng dẫn kỹ hơn khi phải tự tổ chức cuộc sống sau điều trị.
![]() |
| Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, nơi ThS. Mai Thị Ngọc Kiều công tác và cũng là nơi thực hiện khảo sát về nhu cầu thông tin của người bệnh điều trị TACE. Ảnh: tư liệu web. |
Khi dành thêm một phần bảng hỏi để người bệnh tự nêu những điều mình còn muốn biết, 53 người đã cung cấp câu trả lời. Nhóm nghiên cứu phân các ý kiến thành ba mảng gồm chế độ chăm sóc, tư vấn về điều trị và thuốc hỗ trợ, cùng nguy cơ biến chứng liên quan đến thủ thuật. Những câu hỏi cụ thể trải từ ăn uống, sử dụng thuốc đến theo dõi triệu chứng, dấu hiệu cảnh báo và thời điểm cần tìm trợ giúp y tế.
Phần kết quả này làm rõ một vấn đề thường gặp trong giáo dục sức khỏe. Nội dung mà cơ sở y tế cho rằng cần truyền đạt chưa chắc hoàn toàn trùng với thứ người bệnh đang quan tâm nhất. Nếu nhu cầu được hỏi trước, thời gian tư vấn có thể tập trung hơn vào những việc người bệnh phải thực hiện sau khi trở về nhà thay vì chỉ truyền đạt một khối thông tin giống nhau cho tất cả.
Hướng nghiên cứu này cũng nối tiếp công việc của ThS. Mai Thị Ngọc Kiều trong chăm sóc người bệnh ngoại khoa gan - mật - tụy. Các công bố trước đây có tên bà đã đề cập đến tự chăm sóc của người bệnh sau TACE cũng như sự sẵn sàng xuất viện ở người bệnh mang ống dẫn lưu sau phẫu thuật gan, mật và tụy. Điều đó cho thấy câu hỏi về giáo dục sức khỏe trong công trình mới xuất phát từ một chuỗi vấn đề cụ thể của thực hành điều dưỡng, thay vì tách rời khỏi môi trường lâm sàng.
Người bệnh muốn nhận thông tin qua website
Ngoài việc hỏi người bệnh cần được hướng dẫn điều gì, nhóm nghiên cứu còn khảo sát cách họ muốn tiếp nhận thông tin. Website được lựa chọn nhiều nhất, với 71,2% người tham gia, một kết quả đáng chú ý trong bối cảnh giáo dục người bệnh lâu nay thường dựa nhiều vào trao đổi trực tiếp và tài liệu giấy.
Nhóm sử dụng Internet cũng có tỷ lệ báo cáo nhu cầu giáo dục sức khỏe cao lớn hơn nhóm không sử dụng Internet, 77,9% so với 52,4%. Phân tích thống kê ghi nhận odds ratio 3,20, với khoảng tin cậy 95% từ 1,21 đến 8,48. Tuy nhiên, nghiên cứu cắt ngang chỉ ghi nhận mối liên hệ tại thời điểm khảo sát; kết quả này không chứng minh việc sử dụng Internet làm tăng nhu cầu thông tin hay ngược lại.
Việc nhiều người chọn website cũng không đồng nghĩa mọi nội dung tư vấn nên chuyển lên môi trường số. Chính nhóm tác giả chỉ đặt các nền tảng số ở vai trò bổ trợ đối với những người muốn và có khả năng tiếp cận chúng. Với người cao tuổi, người ít sử dụng thiết bị số hoặc cần trao đổi trực tiếp về tình trạng của mình, cuộc trò chuyện với điều dưỡng vẫn là một mắt xích khó thay thế.
Ở góc này, nghiên cứu của ThS. Mai Thị Ngọc Kiều gặp một hướng phát triển khác đang được thử nghiệm trong chăm sóc ung thư tại Việt Nam, khi công cụ số hỗ trợ người bệnh sau điều trị ung thư được kết hợp với nội dung giáo dục và sự theo dõi của nhân viên y tế. Hai nghiên cứu không cùng đối tượng và cũng không thử nghiệm cùng một giải pháp, nhưng đều đặt ra câu hỏi về cách đưa thông tin chăm sóc ra khỏi giới hạn của một lần gặp tại bệnh viện.
![]() |
| Ba nội dung có tỷ lệ người bệnh báo cáo nhu cầu giáo dục sức khỏe ở mức cao lớn nhất trong khảo sát 125 người điều trị TACE. Đồ họa: Phụ nữ Mới; dữ liệu: Kieu và cộng sự, Scientific Reports, 2026. |
Dữ liệu để thiết kế lại việc hướng dẫn người bệnh
Giá trị ứng dụng gần nhất của nghiên cứu không phải một ứng dụng hay quy trình đã được chứng minh hiệu quả, mà là dữ liệu giúp xác định nội dung nào nên được ưu tiên khi chuẩn bị cho người bệnh tự chăm sóc. Thay vì một bộ hướng dẫn quá rộng, điều dưỡng có thể bắt đầu từ ăn uống, tái khám, vận động - nghỉ ngơi, theo dõi triệu chứng, dấu hiệu cảnh báo và sử dụng thuốc, đồng thời lựa chọn cách truyền đạt phù hợp với từng người.
Ranh giới bằng chứng ở đây cần được giữ rõ. Nghiên cứu chưa triển khai một chương trình giáo dục mới rồi so sánh kết quả trước và sau can thiệp. Công trình cũng không đo việc cung cấp các thông tin nói trên có làm giảm biến chứng, giảm tái nhập viện, tăng tuân thủ điều trị hay cải thiện chất lượng sống hay không. Các câu hỏi đó cần một thiết kế nghiên cứu khác để trả lời.
Phạm vi của mẫu nghiên cứu cũng không cho phép lấy những con số 89,6%, 88,8% hay 71,2% làm tỷ lệ chung cho người bệnh ung thư gan trên toàn Việt Nam. Toàn bộ 125 người được khảo sát tại một cơ sở y tế, được tuyển thuận tiện và dữ liệu được ghi nhận tại một thời điểm. Kết quả vì thế phù hợp hơn khi được xem là căn cứ ban đầu để nhận diện những nhu cầu nổi bật trong nhóm người bệnh được khảo sát.
Điểm mới của công trình nằm ở việc đưa tiếng nói của người bệnh vào một khâu rất cụ thể của chăm sóc. Khi câu hỏi không còn chỉ là “nhân viên y tế cần nói gì” mà thêm cả “người bệnh đang cần biết gì”, giáo dục sức khỏe có thể được tổ chức sát hơn với những việc họ phải tự giải quyết sau khi rời bệnh viện. Đó cũng là bước cần thiết trước khi nghĩ đến việc số hóa tài liệu hay xây dựng các chương trình tư vấn riêng cho người bệnh điều trị TACE.


















Nữ tiến sĩ đưa thiết bị đeo vào chăm sóc phụ nữ sau ung thư
Femtech: Làn sóng công nghệ mới định hình tương lai chăm sóc sức khỏe phụ nữ
Cảnh báo 3 ĐIỀU bất thường có thể liên quan đến ung thư gan mà nhiều người Việt chủ quan bỏ qua
Cùng chuyên mục
Người bệnh ung thư gan cần biết gì khi điều trị nút mạch?
Sáu vật liệu được đưa vào phép thử cho linh kiện siêu mỏng
Một hướng nghiên cứu mới từ vật liệu carbon và kháng sinh
Đưa giá trị dược liệu Việt vào sản phẩm từ nguyên liệu bản địa
Mô phỏng cấu trúc tự nhiên để giảm rung cho vật liệu composite
Khi giờ Vật lý không chỉ để nghe giảng