![]() |
| PGS.TS. Trịnh Cẩm Lan phát biểu tại Hội thảo “Nguyễn Tài Cẩn - tư tưởng, tác phẩm và kỷ niệm”. Ảnh: Trần Minh/USSH. |
Một cách phát âm quen thuộc ở thành phố có thể không giống cách nói tại một làng cách đó vài chục kilômét. Đi xa hơn, một biến thể tưởng đã mờ nhạt ở vùng trung tâm lại còn được giữ tại khu vực ngoại vi. Với người nghiên cứu phương ngữ, những khác biệt ấy không chỉ là chuyện người nơi này nói khác người nơi kia. Khi được đặt lên bản đồ, chúng có thể cho thấy ngôn ngữ đang biến đổi và khuếch tán trong không gian như thế nào.
Chuỗi công trình được PGS.TS. Trịnh Cẩm Lan, giảng viên cao cấp Khoa Ngôn ngữ học và Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội công bố trong năm 2026 đi khá sâu vào hướng này. Từ hàng trăm điểm khảo sát ở Đồng bằng sông Hồng đến các biến thể thanh điệu tại vùng Sơn Tây, bà sử dụng dữ liệu ngôn ngữ gắn với vị trí địa lý để nhận diện những khu vực đang thay đổi mạnh và những nơi còn giữ các đặc điểm cũ.
344 điểm khảo sát cho thấy ngôn ngữ không thay đổi đồng đều
Trong một nghiên cứu xuất bản năm 2026, PGS.TS. Trịnh Cẩm Lan khảo sát sự phân bố của ba nhóm phụ âm tại 344 địa điểm thuộc Đồng bằng sông Hồng và một số khu vực lân cận. Thay vì chỉ lập danh sách nơi nào có cách phát âm nào, dữ liệu được xử lý theo hướng địa ngôn ngữ học và trực quan hóa bằng hệ thống thông tin địa lý để tạo các bản đồ phân bố.
Các bản đồ cho thấy xu hướng nhập các biến thể phát âm xuất hiện rõ hơn tại những trung tâm đô thị, trong khi một số cách phát âm còn duy trì sự phân biệt hoặc mang đặc điểm cũ vẫn xuất hiện rải rác tại các khu vực ngoại vi. Phân bố đó không có nghĩa cứ ở thành phố thì người nói tất yếu đổi cách phát âm, còn vùng xa luôn giữ tiếng nói cũ. Kết quả mô tả một xu hướng không gian trên tập dữ liệu khảo sát, với những vùng chuyển tiếp và những điểm không hoàn toàn đi theo mô hình chung.
Nhà nghiên cứu giải thích các kiểu phân bố bằng cách kết hợp mô hình làn sóng với lý thuyết mạng lưới xã hội. Theo cách tiếp cận này, một hình thức ngôn ngữ mới có thể lan từ khu vực trung tâm ra xung quanh, nhưng tốc độ và mức độ tiếp nhận không đồng đều. Những cộng đồng có mạng lưới giao tiếp tương đối khép kín có khả năng duy trì biến thể địa phương lâu hơn, trong khi những nơi có mức độ giao tiếp và tiếp xúc lớn hơn tạo điều kiện cho các hình thức mới lan rộng.
Điểm đáng chú ý của cách làm này nằm ở việc đưa yếu tố không gian vào phân tích biến đổi ngôn ngữ. Nếu chỉ biết hai cách phát âm cùng tồn tại, khó xác định chúng đang phân bố theo quy luật nào. Khi hàng trăm điểm dữ liệu được đặt đúng vị trí địa lý, những vùng tập trung, ranh giới chuyển tiếp hay các điểm còn lưu giữ biến thể cũ mới có thể hiện ra để tiếp tục được kiểm tra bằng các yếu tố lịch sử và xã hội.
![]() |
| PGS.TS. Trịnh Cẩm Lan (ngoài cùng bên trái) cùng các nhà khoa học tại tọa đàm về phương pháp viết bài khoa học, tháng 4/2025. Ảnh: Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. |
Sơn Tây là một lát cắt khác trong chuỗi nghiên cứu này. Công trình về đặc điểm và phân bố địa lý của thanh điệu phương ngữ Sơn Tây, công bố năm 2026 trên tạp chí Dialectologia, kết hợp mô tả đồng đại với so sánh lịch đại và thể hiện các biến thể thanh điệu trên bản đồ. Dữ liệu được đối chiếu với các phương ngữ Mường lân cận thay vì chỉ đặt Sơn Tây cạnh tiếng Hà Nội đô thị.
Kết quả ghi nhận những nét tương đồng đáng kể giữa tiếng Việt và tiếng Mường trong khu vực khảo sát, đồng thời cũng có những khác biệt với các phương ngữ Việt và Mường ở nơi khác. Công trình xem đây là dữ liệu để thảo luận về những đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa được chia sẻ trong không gian Sơn Tây. Nó không phải bằng chứng để từ riêng thanh điệu suy ra một lịch sử cư dân hoàn chỉnh, bởi những kết luận về lịch sử cộng đồng còn cần thêm dữ liệu từ nhiều lĩnh vực khác.
Từ cách phát âm đến những lớp thông tin nằm trong lời ăn tiếng nói
Địa danh cũng được PGS.TS. Trịnh Cẩm Lan đưa vào địa ngôn ngữ học. Trong một chương sách quốc tế xuất bản tháng 3/2026 cùng PGS.TS. Trần Thị Hồng Hạnh, hai tác giả khảo sát một số địa danh được giả định có nguồn gốc Nam Đảo tại đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có Hà Nội. Từ sự phân bố của những yếu tố liên quan đến sông, nước, cửa sông và cá, nghiên cứu đặt ra giả thuyết về những lớp tiếp xúc ngôn ngữ có thể đã xuất hiện từ sớm.
Ở đây, ranh giới giữa dữ liệu và giả thuyết đặc biệt quan trọng. Sự tương ứng giữa các địa danh cho phép đặt câu hỏi về tiếp xúc và dịch chuyển cư dân, nhưng không tự nó chứng minh một cuộc di cư đã diễn ra ở thời điểm cụ thể. Chính vì vậy, giá trị của địa ngôn ngữ học nằm nhiều ở khả năng tạo ra một hệ thống dữ liệu có thể tiếp tục đối chiếu với lịch sử, khảo cổ học, dân tộc học và các nguồn tư liệu khác.
![]() |
| PGS.TS. Trịnh Cẩm Lan, giảng viên cao cấp Khoa Ngôn ngữ học và Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: USSH. |
Một nhánh nghiên cứu khác của PGS.TS. Trịnh Cẩm Lan trong năm 2026 rời bản đồ phát âm để đi vào ca dao Hà Nội. Với các ngữ liệu liên quan đến Tây Hồ và sông Tô Lịch, bà thử tiếp cận ca dao bằng phân tích diễn ngôn sinh thái, tìm cách nhận diện những tri thức và thái độ đối với tự nhiên được lưu giữ trong lời dân gian.
Cách đọc này không xem ca dao đơn thuần như những câu chữ mô tả cảnh vật. Cấu trúc ngôn ngữ, cách con người và tự nhiên được đặt trong quan hệ với nhau, cũng như hình ảnh sông hồ xuất hiện trong lời ca đều trở thành dữ liệu phân tích. Nghiên cứu nhận diện những câu chuyện thể hiện mối quan hệ hài hòa giữa con người với môi trường sống của Hà Nội xưa, qua đó mở thêm một hướng nhìn vào phần thông tin xã hội và sinh thái được lưu giữ trong ngôn ngữ.
Từ phương ngữ Đồng bằng sông Hồng, thanh điệu Sơn Tây đến địa danh và ca dao Hà Nội, các công trình năm 2026 không phải những mảng hoàn toàn tách rời. Chúng cùng đặt tiếng Việt vào không gian nơi nó được sử dụng, di chuyển và thay đổi. Một cách phát âm có địa bàn phân bố, một địa danh có lịch sử tiếp xúc, một câu ca gắn với môi trường sống và mỗi lớp dữ liệu chỉ có ý nghĩa khi giới hạn của nó được giữ rõ.
Hướng làm việc ấy cũng cho thấy nghiên cứu tiếng Việt không chỉ là xác lập cách nói nào đúng hay khác chuẩn. Với dữ liệu đủ rộng và phương pháp phù hợp, những khác biệt trong lời ăn tiếng nói có thể trở thành dấu vết để quan sát chuyển động của cộng đồng. Công việc của người nghiên cứu là đo, đối chiếu và dựng lại những mối quan hệ ấy từ dữ liệu, thay vì biến mỗi khác biệt ngôn ngữ thành một câu chuyện lịch sử vượt quá những gì dữ liệu có thể chứng minh.















Những phép thử khó dành cho AI tiếng Việt
1.677 dấu vết ngôn ngữ trong truyện thiếu nhi Việt Nam
Phát triển tiếng Việt cho trẻ lớp ghép từ hoạt động chơi
Cùng chuyên mục
Những biến đổi của tiếng Việt hiện ra trên bản đồ phương ngữ
Thảm phủ thay đổi, dòng chảy thượng lưu Đồng Nai biến động ra sao
Ba mô hình sinh kế khép kín được thử nghiệm tại An Giang
Ba lớp kiểm soát trong bài toán phòng chống gian lận
Giúp robot bám đúng quỹ đạo khi cơ cấu truyền động có khoảng trễ
Bài toán nitơ trong nước thải thủy sản của NCS. Phan Thị Kim Thủy