![]() |
| Ảnh minh họa: ITN |
Phiên thảo luận tại hội trường sáng 21/4, về Báo cáo số 137/BC-CP của Chính phủ đã cho thấy một cách nhìn thẳng thắn, không né tránh đối với bức tranh bình đẳng giới hiện nay. Những con số tích cực được ghi nhận, nhưng phía sau đó là các “nút thắt” tồn tại lâu dài, chưa được tháo gỡ triệt để.
Điểm đáng chú ý là sự đồng thuận trong nhận định của các đại biểu: nếu chỉ dừng lại ở việc hoàn thành các chỉ tiêu định lượng mà chưa xử lý những rào cản cấu trúc như định kiến xã hội, phân công lao động theo giới hay hạn chế về dữ liệu, thì mục tiêu phát triển bền vững khó đạt được một cách toàn diện.
Báo cáo của Chính phủ phản ánh nhiều kết quả tích cực, khi không ít chỉ tiêu đã hoàn thành hoặc vượt kế hoạch. Điều đó cho thấy sự quan tâm nhất quán của Đảng, Nhà nước và nỗ lực của cả hệ thống chính trị. Tuy nhiên, các đại biểu nhấn mạnh rằng, điều quan trọng không chỉ là “điểm sáng” trên báo cáo, mà là khả năng nhận diện đúng những khoảng trống còn tồn tại.
Một trong những vấn đề được nêu bật là hệ thống dữ liệu giới còn thiếu và yếu. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà (Đoàn Hà Nội) chỉ ra thực trạng công tác thống kê còn phân tán, thiếu liên thông, trong khi có tới 7/20 chỉ tiêu chưa đạt hoặc chưa có số liệu trong năm 2025. Nhiều chỉ tiêu quan trọng vẫn phụ thuộc vào các cuộc tổng điều tra định kỳ dài, khiến thông tin bị chậm cập nhật và không phản ánh kịp thời biến động xã hội.
Theo phân tích của đại biểu, dữ liệu không chỉ là công cụ kỹ thuật mà là nền tảng của quản trị. Khi thiếu dữ liệu đầy đủ, đặc biệt là dữ liệu tách biệt theo giới, việc đánh giá chính sách sẽ thiếu chính xác, kéo theo nguy cơ phân bổ nguồn lực không phù hợp. Điều này khiến chính sách dù đúng định hướng vẫn có thể không trúng đối tượng, không giải quyết được vấn đề thực tiễn.
Từ thực tế đó, đề xuất số hóa và đồng bộ dữ liệu giới, chuyển sang thu thập dữ liệu theo thời gian thực trên nền tảng số được xem là hướng đi cần thiết. Việc tích hợp thông tin giới vào cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cũng được kỳ vọng tạo ra nền tảng dữ liệu thống nhất, giúp nâng cao chất lượng hoạch định và giám sát chính sách.
Song song với vấn đề dữ liệu, cơ chế trách nhiệm cũng được chỉ ra là một điểm nghẽn lớn. Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng) cho rằng, ngay cả khi đã có chiến lược và mục tiêu rõ ràng, việc xác định trách nhiệm khi không đạt chỉ tiêu vẫn còn mờ nhạt. Thực tế cho thấy, khi một chỉ tiêu không đạt hoặc đạt chưa bền vững, việc quy trách nhiệm cụ thể cho từng cấp, từng ngành chưa được làm rõ, khiến hiệu lực thực thi bị suy giảm.
Theo đại biểu, cần gắn trách nhiệm cụ thể với từng nhóm chỉ tiêu, đặc biệt là các chỉ tiêu còn thấp trong thời gian dài. Đồng thời, kết quả thực hiện bình đẳng giới cần trở thành tiêu chí quan trọng trong đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị. Chỉ khi trách nhiệm được làm rõ, chính sách mới có thể chuyển từ “đúng trên giấy” sang hiệu quả trong thực tế.
Ở góc độ sâu hơn, vấn đề bình đẳng giới không chỉ nằm ở tỷ lệ tham gia mà còn ở chất lượng tham gia và mức độ thụ hưởng. Việc đo lường cần phản ánh được thực chất vai trò của phụ nữ trong các lĩnh vực, thay vì chỉ dừng lại ở những con số bề mặt. Đây cũng là điều kiện để chuyển từ cách tiếp cận bình đẳng hình thức sang bình đẳng thực chất.
Một trong những nguyên nhân cốt lõi của bất bình đẳng được các đại biểu nhấn mạnh là gánh nặng lao động không được trả công trong gia đình. Phụ nữ vẫn dành nhiều thời gian hơn nam giới cho công việc nội trợ và chăm sóc, điều này trực tiếp hạn chế cơ hội học tập, làm việc và thăng tiến của họ.
Theo các đại biểu, đây không chỉ là vấn đề cá nhân hay gia đình, mà là rào cản mang tính cấu trúc. Khi phụ nữ phải “gánh hai vai”, họ khó có điều kiện tham gia đầy đủ vào đời sống kinh tế – xã hội. Vì vậy, các giải pháp cần hướng tới thay đổi nhận thức cộng đồng, giảm gánh nặng chăm sóc không được trả công và tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện.
Thực tiễn triển khai chính sách ở cơ sở cũng cho thấy nhiều bất cập. Sau quá trình sáp nhập, đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới có nhiều biến động, phần lớn là cán bộ kiêm nhiệm, thiếu kinh nghiệm và không ổn định. Điều này dẫn đến tình trạng triển khai thiếu liên tục, hiệu quả giảm sút.
Việc giao nhiệm vụ nhưng không có cơ chế ràng buộc rõ ràng khiến công tác này chưa được thực hiện một cách chuyên nghiệp. Nhiều ý kiến cho rằng cần xác định rõ vị trí việc làm chuyên trách hoặc ít nhất phải quy định cụ thể khối lượng công việc đối với cán bộ kiêm nhiệm, đồng thời có cơ chế giữ chân nhân lực đã qua đào tạo.
Bên cạnh đó, nguồn lực dành cho bình đẳng giới vẫn là một vấn đề đáng lo ngại. Mặc dù đã có bố trí ngân sách, nhưng mức phân bổ còn hạn chế, chủ yếu theo hình thức lồng ghép. Ở cấp cơ sở, nơi trực tiếp giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến giới, kinh phí lại rất thấp, thậm chí không có nguồn riêng.
Thực trạng này khiến nhiều chương trình khó triển khai hiệu quả, dẫn đến khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn. Các đại biểu đề nghị cần quy định rõ tỷ lệ ngân sách tối thiểu dành riêng cho công tác bình đẳng giới tại cấp cơ sở, coi đây là điều kiện tiên quyết để chính sách đi vào cuộc sống.
Đại biểu Chamaléa Thị Thủy (Đoàn Khánh Hòa) cũng nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện hướng dẫn lồng ghép giới trong xây dựng chính sách và pháp luật, đồng thời thực hiện nghiêm túc đánh giá tác động giới. Việc ưu tiên nguồn lực cho vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; đầu tư vào giáo dục, y tế, sinh kế và mở rộng mạng lưới hỗ trợ nạn nhân bạo lực giới được xem là những giải pháp thiết thực.
Từ các ý kiến thảo luận, có thể thấy bình đẳng giới đang được đặt trong một cách tiếp cận rộng hơn, gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững. Những hạn chế hiện nay không phải là vấn đề riêng lẻ, mà là các rào cản mang tính hệ thống, đòi hỏi giải pháp đồng bộ và lâu dài.
Muốn tạo chuyển biến thực chất, cần bắt đầu từ việc hoàn thiện dữ liệu, làm rõ trách nhiệm, củng cố tổ chức và bảo đảm nguồn lực. Quan trọng hơn, phải thay đổi tư duy từ việc chạy theo chỉ tiêu sang giải quyết tận gốc nguyên nhân của bất bình đẳng.
Khi những “nút thắt” này được tháo gỡ, bình đẳng giới sẽ không chỉ là mục tiêu cần đạt, mà trở thành động lực cho phát triển, góp phần xây dựng một xã hội công bằng và bền vững hơn.

















Gánh nặng nước sạch và bất bình đẳng giới: 250 triệu giờ mỗi ngày của phụ nữ và trẻ em gái
Tăng mức xử phạt vi phạm bình đẳng giới trong gia đình từ 1/5/2026
Bổ sung dự án sửa đổi Luật Bình đẳng giới vào chương trình lập pháp năm 2026
Hà Nội đẩy mạnh bình đẳng giới, hướng tới bầu cử Quốc hội khóa XVI
Thẩm tra kết quả thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025
Việt Nam khẳng định cam kết thúc đẩy bình đẳng giới tại Liên hợp quốc
Cùng chuyên mục
Tháo gỡ điểm nghẽn để tiến tới bình đẳng giới thực chất
Quyền nghỉ ngơi của phụ nữ bị thu hẹp từ những việc không lương
Hướng đến 2030, 100% người bị bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện và tiếp cận dịch vụ hỗ trợ phù hợp
Khởi nghiệp 0 đồng cho phụ nữ: Trao vốn, dạy nghề, lo đầu ra
Gánh nặng nước sạch và bất bình đẳng giới: 250 triệu giờ mỗi ngày của phụ nữ và trẻ em gái
Triển khai Chương trình phòng, chống bạo lực giới giai đoạn 2026–2030