Quả na sau khi rời cây vẫn tiếp tục chín, mô quả mềm dần và dễ bị vi sinh vật tác động, khiến thời gian bảo quản tương đối ngắn. Với bài toán này, TS. Hoàng Thị Như Hạnh, giảng viên Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế, cùng cộng sự chọn hướng tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có khả năng kháng vi sinh vật từ hai loài Jatropha.
Nhóm nghiên cứu tập trung vào Jatropha curcas và Jatropha integerrima, đi từ khảo sát thành phần hóa học, phân lập hợp chất đến đánh giá hoạt tính sinh học. Kết quả sau đó được nối với một bước gần ứng dụng hơn khi nhóm xây dựng quy trình điều chế chế phẩm nanochitosan kết hợp hoạt chất từ Jatropha integerrima, định hướng sử dụng trong bảo quản nông sản sau thu hoạch.
Đề tài do TS. Hoàng Thị Như Hạnh làm chủ nhiệm được nghiệm thu cấp Đại học Huế ngày 23/4/2026. Thay vì chỉ đặt câu hỏi một loài cây có khả năng kháng vi sinh vật hay không, nghiên cứu đi sâu vào việc tìm thành phần nào tạo ra hoạt tính và liệu những thành phần được lựa chọn có thể tiếp tục phát triển thành dạng chế phẩm phù hợp cho một bài toán cụ thể.
Tìm đến từng hợp chất trong cây
Jatropha là một chi thực vật đã được nghiên cứu ở nhiều hướng khác nhau về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học. Với nhóm của TS. Hoàng Thị Như Hạnh, công việc không dừng ở việc tạo dịch chiết rồi quan sát tác dụng chung. Các mẫu thực vật được xử lý để phân lập từng thành phần, xác định cấu trúc hóa học và đưa những hợp chất thu được vào các phép thử hoạt tính phù hợp.
Cách tiếp cận này giúp thu hẹp dần câu hỏi nghiên cứu. Một dịch chiết có thể chứa nhiều chất, nhưng hoạt tính quan sát được không có nghĩa tất cả các thành phần đều đóng vai trò như nhau. Việc phân lập giúp xác định những hợp chất đáng chú ý hơn và tạo cơ sở cho các bước nghiên cứu tiếp theo.
![]() |
| TS. Hoàng Thị Như Hạnh trình bày kết quả nghiên cứu về các hợp chất từ Jatropha tại Hội đồng nghiệm thu cấp Đại học Huế ngày 23/4/2026. Ảnh: Khoa Cơ khí và Công nghệ, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Huế. |
Trong năm 2025, TS. Hoàng Thị Như Hạnh cùng các cộng sự công bố nghiên cứu về phần trên mặt đất của Jatropha integerrima, trong đó xác định một diterpenoid kiểu cembrane mới cùng các thành phần khác và khảo sát hoạt tính kháng khuẩn. Một công trình khác của nhóm tiếp tục nghiên cứu các diterpenoid từ chính loài cây này.
Những kết quả hóa học ấy là một phần nền tảng của đề tài được nghiệm thu năm 2026. Chúng cho phép nhóm chuyển từ câu hỏi khá rộng về tiềm năng của Jatropha sang việc xác định những cấu trúc hóa học cụ thể có hoạt tính kháng vi sinh vật.
TS. Hoàng Thị Như Hạnh cũng trình bày kết quả về các diterpenoid mới từ Jatropha integerrima và hoạt tính kháng khuẩn tại một hội nghị sinh học quốc tế tổ chức năm 2025. Việc các dữ liệu được phát triển thành công bố và trao đổi học thuật cho thấy phần sàng lọc hợp chất không phải một bước phụ của đề tài mà là trục nghiên cứu được nhóm theo đuổi liên tục.
Nối nghiên cứu hợp chất với bảo quản sau thu hoạch
Nếu chỉ dừng ở việc phát hiện hoạt tính kháng vi sinh vật, công trình vẫn chủ yếu thuộc phạm vi hóa học hợp chất tự nhiên. Bài toán tiếp theo mà nhóm đặt ra là đưa kết quả đó gần hơn với một nhu cầu trong công nghệ sau thu hoạch.
Quả na được chọn làm đối tượng định hướng. Đây là loại quả mềm nhanh khi chín, vì vậy việc kéo dài thời gian bảo quản luôn liên quan đến nhiều yếu tố, từ trạng thái sinh lý của quả, điều kiện nhiệt độ đến sự phát triển của vi sinh vật. Nhóm của TS. Hoàng Thị Như Hạnh tập trung vào phần liên quan đến các hợp chất có hoạt tính kháng vi sinh vật và khả năng tạo một dạng chế phẩm thích hợp.
Kết quả nghiệm thu cho thấy nhóm đã xây dựng được quy trình điều chế chế phẩm nanochitosan kết hợp hoạt chất từ Jatropha integerrima. Nanochitosan đóng vai trò nền vật liệu để kết hợp với các hoạt chất được lựa chọn, tạo một hướng tiếp cận cho việc tiếp tục nghiên cứu chế phẩm bảo quản sau thu hoạch.
Ở giai đoạn này, cần phân biệt giữa một quy trình chế phẩm được xây dựng trong đề tài với một sản phẩm đã hoàn thiện để sử dụng rộng rãi. Kết quả nghiệm thu mới được xác định là tạo tiền đề cho khả năng chuyển giao ứng dụng. Chưa có căn cứ để nói chế phẩm đã được thương mại hóa hoặc đã được triển khai trong sản xuất na ở quy mô lớn.
Khoảng cách này rất quan trọng. Một hợp chất có hoạt tính trong phép thử phòng thí nghiệm chưa đủ để kết luận về hiệu quả khi sử dụng trên nông sản trong mọi điều kiện. Nếu tiếp tục hướng đến sản phẩm, các bước sau còn phải trả lời những câu hỏi về độ ổn định của chế phẩm, điều kiện xử lý, mức sử dụng phù hợp, chất lượng quả trong quá trình bảo quản và các yêu cầu an toàn liên quan.
Chính ở phần chuyển tiếp đó, nghiên cứu của TS. Hoàng Thị Như Hạnh cho thấy hai công việc khác nhau nhưng phải nối được với nhau. Phần hóa học giúp biết trong cây có gì và chất nào đáng chú ý; phần công nghệ phải tìm cách đưa kết quả ấy vào một hệ vật liệu và một điều kiện sử dụng cụ thể.
Theo đuổi hợp chất tự nhiên qua nhiều loài thực vật
Jatropha không phải đối tượng duy nhất trong các nghiên cứu của TS. Hoàng Thị Như Hạnh. Dữ liệu công bố của Đại học Huế cho thấy bà theo đuổi khá liên tục hướng chiết xuất, phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất từ nguồn thực vật, sau đó khảo sát hoạt tính sinh học của chúng.
Một mạch nghiên cứu khác của bà tập trung vào Conamomum rubidum, một loài thuộc họ Gừng có vùng phân bố tại Việt Nam. Các công trình trước đó đã phân lập nhiều thành phần hóa học từ loài này. Năm 2026, TS. Hoàng Thị Như Hạnh và cộng sự tiếp tục có công bố về một dẫn xuất monoterpenoid dihydrochalcone phân lập từ Conamomum rubidum và khảo sát tác động của hợp chất trong mô hình tế bào liên quan đến đáp ứng với erlotinib.
Kết quả này thuộc một bài toán nghiên cứu khác, không liên quan trực tiếp đến bảo quản quả na và cũng không thể diễn giải thành hiệu quả điều trị ở người. Điểm chung giữa các công trình nằm ở cách nhà nghiên cứu đi từ nguồn thực vật đến từng hợp chất cụ thể, sau đó mới đặt chúng vào những phép thử sinh học phù hợp.
Trong nghiên cứu hợp chất tự nhiên, đây là bước giúp tránh cách nhìn đơn giản rằng một loài cây có hoạt tính thì mặc nhiên có thể trở thành sản phẩm. Giữa cây nguyên liệu và một ứng dụng còn có quá trình xác định thành phần, kiểm chứng tác dụng, lựa chọn hợp chất, xây dựng dạng chế phẩm và đánh giá trong điều kiện gần với thực tế hơn.
![]() |
| Hội đồng nghiệm thu cùng nhóm thực hiện đề tài nghiên cứu hợp chất từ hai loài Jatropha theo hướng bảo quản quả na sau thu hoạch. Ảnh: Khoa Cơ khí và Công nghệ, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Huế. |
Đề tài Jatropha do TS. Hoàng Thị Như Hạnh chủ nhiệm đã tạo ra bốn bài báo khoa học, trong đó ba bài được công bố trên các tạp chí quốc tế thuộc SCIE và Scopus, đồng thời gắn với hai khóa luận tốt nghiệp ngành Công nghệ thực phẩm. Những kết quả này phản ánh phần nghiên cứu cơ bản và đào tạo đã được hình thành quanh đề tài.
Bước đáng theo dõi tiếp theo lại nằm ngoài số lượng công bố. Quy trình chế phẩm đã có, hoạt chất đã được sàng lọc, nhưng khả năng đi xa đến đâu trong bảo quản quả na còn phụ thuộc vào những phép thử và đánh giá tiếp theo. Với một nghiên cứu hướng ứng dụng, chính khoảng cách giữa kết quả trong phòng thí nghiệm và điều kiện sử dụng thực tế mới là phần quyết định liệu một hoạt chất tìm thấy trong cây có thể trở thành giải pháp cho nông sản sau thu hoạch hay không.
















GS.TS Lê Mai Hương: Nguồn dược liệu trong nước có giá trị lớn, nhưng việc khai thác, phát triển sản phẩm từ nguồn nguyên liệu này vẫn còn hạn chế
NCS Nguyễn Phương Nhị tìm “dấu vân tay” hóa học của Trà hoa vàng
Ứng dụng sóng điện từ, siêu âm để nâng giá trị nông sản và dược liệu
Cùng chuyên mục
Người bệnh thận mạn tự chăm sóc thế nào ngoài bệnh viện?
12 bộ kit STEM được làm ra cho những giờ Khoa học tự nhiên
Tìm hoạt chất từ Jatropha để bảo quản quả na
Công nghệ cao giúp giảm thất thoát nông sản sau thu hoạch
Nước dùng để sản xuất chip phải sạch đến mức nào?
Bài kiểm tra Toán không chỉ để tìm một đáp án đúng