![]() |
| NCS Nguyễn Phương Nhị tại lễ bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Trường năm 2026 ở USTH. Ảnh: USTH. |
Giá trị của một cây dược liệu thường được nhắc đến bằng kinh nghiệm dùng lâu năm, bằng câu chuyện vùng trồng hay bằng giá bán trên thị trường. Nhưng để một loài cây đi xa hơn trong nghiên cứu và ứng dụng, nó cần thêm một lớp bằng chứng khác: thành phần hóa học cụ thể, thay đổi ra sao giữa các loài, ở giai đoạn nào, và sau thu hoạch còn giữ lại được gì. NCS Nguyễn Phương Nhị đang đi vào đúng lớp việc đó với Trà hoa vàng, một nhóm dược liệu đặc hữu được quan tâm tại Việt Nam.
NCS Nguyễn Phương Nhị hiện theo học ngành Công nghệ Sinh học nông, y, dược tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH). Theo thông tin chính thức của USTH, chị vừa bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp trường với đề tài “Integration of metabolomics and antioxidant activity for the valorization of several endemic Golden Camellia species of Vietnam”, tạm dịch là phân tích hệ chất chuyển hóa và đánh giá tác dụng chống oxy hóa của một số loài Trà hoa vàng đặc hữu ở Việt Nam. Luận án do PGS.TS Nguyễn Thị Kiều Oanh của USTH và GS Eric Gontier của Đại học Picardie Jules Verne, Pháp hướng dẫn; hội đồng chấm luận án bỏ phiếu 100% tán thành với kết quả 7/7.
Điểm đáng chú ý ở đề tài này không nằm ở một lời khẳng định rộng kiểu “Trà hoa vàng rất quý”, mà ở cách tiếp cận. Nguyễn Phương Nhị chọn metabolomics, tức phân tích một phổ rộng các chất chuyển hóa trong mẫu thực vật, để đọc kỹ hơn sự khác biệt giữa các loài Trà hoa vàng và giữa các trạng thái mẫu. Nói dễ hiểu, chị không chỉ hỏi cây này “có hoạt tính không”, mà còn đi sâu vào câu hỏi “thành phần nào tạo nên khác biệt” và “khác biệt ấy thay đổi ra sao từ lúc cây sinh trưởng đến sau thu hoạch”.
Cách làm này giúp kéo câu chuyện dược liệu ra khỏi vùng mô tả chung chung. Trà hoa vàng vốn đã được biết đến như một nguồn nguyên liệu có tiềm năng trong chăm sóc sức khỏe. Nhưng nếu không chỉ ra được sự khác nhau giữa từng loài, từng bộ phận cây hay từng giai đoạn xử lý, rất khó nói đến chuyện chuẩn hóa chất lượng, chọn nguồn nguyên liệu phù hợp hay phát triển hướng ứng dụng tiếp theo. Với nghiên cứu của Nguyễn Phương Nhị, giá trị của Trà hoa vàng bắt đầu được nhìn bằng ngôn ngữ dữ liệu hóa học chứ không chỉ bằng danh tiếng của một cây thuốc quý.
Kết quả này không chỉ nằm trong luận án. Hồ sơ công bố của nhóm nghiên cứu cho thấy Nguyễn Phương Nhị là tác giả đứng tên đầu ở các bài báo liên quan trực tiếp đến hướng nghiên cứu này. Một công bố năm 2024 trên International Journal of Food Science & Technology tập trung vào việc nhận diện sự khác biệt trong hồ sơ hóa học của Trà hoa vàng theo loài, độ trưởng thành và trạng thái sau thu hoạch. Một công bố khác trên Chemistry & Biodiversity đi sâu vào việc phân tích thành phần chất chuyển hóa ở hoa và lá của Camellia tienii, một loài Trà hoa vàng đặc hữu của Việt Nam. Chính các công bố đó cho thấy đề tài không dừng ở một buổi bảo vệ luận án, mà đã có đầu ra học thuật đủ rõ.
Nhìn ở góc độ rộng hơn, việc một nghiên cứu sinh trẻ chọn metabolomics cho một dược liệu bản địa là một lựa chọn có ý nghĩa. Không ít cây thuốc Việt Nam được nhắc nhiều về tiềm năng nhưng lại thiếu dữ liệu đủ sâu để đi vào chuẩn hóa, so sánh hay phát triển sản phẩm. Nghiên cứu kiểu của Nguyễn Phương Nhị không tự động biến Trà hoa vàng thành một sản phẩm thương mại, càng không thể suy diễn thành khẳng định chữa bệnh. Nhưng nó làm một việc nền quan trọng hơn: cung cấp căn cứ để hiểu rõ hơn giá trị sinh học của dược liệu, từ đó tạo điều kiện cho các bước nghiên cứu tiếp theo.
Ở đây cũng cần giữ ranh giới khoa học cho rõ. Luận án của Nguyễn Phương Nhị tập trung vào phân tích hệ chất chuyển hóa và hoạt tính chống oxy hóa. Điều đó có nghĩa công trình góp phần chỉ ra tiềm năng và sự khác biệt hóa học giữa các mẫu nghiên cứu, chứ không đồng nghĩa với việc mọi loài Trà hoa vàng đều đã được chứng minh đầy đủ hiệu quả điều trị trên người. Sự thận trọng này rất cần, nhất là trong bối cảnh dược liệu thường dễ bị đẩy quá nhanh từ nghiên cứu phòng thí nghiệm sang những lời quảng bá vượt quá bằng chứng.
Dù vậy, hướng đi mà Nguyễn Phương Nhị theo đuổi vẫn đáng chú ý ở chỗ nó nối được ba lớp việc vốn thường tách rời nhau: nguồn gen bản địa, công cụ phân tích hiện đại và khả năng đọc lại giá trị của dược liệu Việt bằng tiêu chuẩn khoa học. Nếu những nghiên cứu tiếp theo tiếp tục làm rõ được mối liên hệ giữa thành phần hóa học, hoạt tính sinh học và điều kiện bảo quản, Trà hoa vàng có thể được nhìn nhận chính xác hơn, cả trong nghiên cứu lẫn trong định hướng ứng dụng.
Phụ nữ Mới từng có bài về ThS Phạm Thị Lý trồng hơn 10 ngàn cây chè hoa vàng Hakodae, chủ yếu đi vào hành trình gìn giữ và phát triển nguồn cây quý. Bài viết về Nguyễn Phương Nhị tạo thêm một lát cắt khác: thay vì kể câu chuyện vùng trồng, nó đi thẳng vào việc giải mã bằng chứng hóa học của Trà hoa vàng.
![]() |
| NCS Nguyễn Phương Nhị trình bày kết quả nghiên cứu tại buổi bảo vệ luận án ở USTH. Ảnh: USTH. |
Một liên hệ khác cũng có thể thấy rõ: Phụ nữ Mới gần đây đã phản ánh câu chuyện GS.TS Lê Mai Hương nhấn mạnh giá trị lớn của nguồn dược liệu trong nước nhưng cũng chỉ ra nhiều hạn chế trong khai thác và phát triển sản phẩm. Trong mạch ấy, nghiên cứu của Nguyễn Phương Nhị cho thấy một hướng bổ sung rất cụ thể: trước khi nghĩ tới thị trường lớn, dược liệu Việt cần được đọc kỹ hơn bằng các phương pháp hiện đại, để biết chính xác mình đang có gì trong tay.
Cùng với đó, bài viết Nữ tiến sĩ “tối ưu bộ rễ Ba kích” ở vùng dược liệu tiền tỷ từng đặt ra một hướng nhìn gần gũi: muốn dược liệu Việt mạnh hơn, không thể chỉ dừng ở khâu phát hiện cây quý mà còn phải đi tiếp tới nghiên cứu, chọn lọc và chuẩn hóa. Công việc của Nguyễn Phương Nhị đứng về phía đầu chuỗi ấy, nơi dữ liệu khoa học bắt đầu định hình giá trị thực của nguyên liệu.
![]() |
| Hình ảnh tại lễ bảo vệ luận án của NCS Nguyễn Phương Nhị ở USTH. Ảnh: USTH. |
Từ một đề tài về Trà hoa vàng, điều hiện lên không chỉ là tiềm năng của một cây thuốc bản địa, mà còn là chân dung của một gương mặt trẻ chọn đi vào phần việc khó, chậm và cần độ chính xác cao. Ở đó, Nguyễn Phương Nhị không tìm kiếm một kết luận giật gân. Chị làm một việc bền bỉ hơn: đọc cho rõ hơn thành phần của dược liệu Việt, để những giá trị vốn được nhắc nhiều bằng kinh nghiệm có thể đứng vững hơn bằng dữ liệu.




















ThS Phạm Thị Lý – Người đam mê cây thảo dược và hành trình trồng hơn 10 ngàn cây chè hoa vàng Hakodae tại Cao nguyên Đông Bo
Nữ tiến sĩ “tối ưu bộ rễ Ba kích” ở vùng dược liệu tiền tỷ
GS.TS Lê Mai Hương: Nguồn dược liệu trong nước có giá trị lớn, nhưng việc khai thác, phát triển sản phẩm từ nguồn nguyên liệu này vẫn còn hạn chế
Cùng chuyên mục
NCS Nguyễn Phương Nhị tìm “dấu vân tay” hóa học của Trà hoa vàng
TS Sara Issaoun tăng độ nhạy của EHT bằng hai bước sóng
Nữ sinh Phenikaa giữ GPA Giỏi, hai năm liên tiếp đạt giải nghiên cứu khoa học
Đổi nhiệt độ, nữ nghiên cứu sinh chọn hai nhóm hợp chất
Nguyễn Thị Phượng và bài toán xử lý kháng sinh trong nước
Nữ thủ khoa Luật Quốc tế nhận 6 lời mời học thạc sĩ từ các đại học châu Âu