![]() |
| Nguyễn Thị Phượng, sinh viên K67 ngành Hóa học, Trường Hóa và Khoa học Sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: Trường Hóa và Khoa học Sự sống. |
Cuối năm nhất đại học, Nguyễn Thị Phượng đã bước vào phòng thí nghiệm. Những buổi làm thí nghiệm không phải lúc nào cũng cho kết quả như dự tính: có mẫu phải làm lại nhiều lần, có những tối kéo dài với tài liệu chuyên ngành. Đến năm 2026, sinh viên K67 ngành Hóa học này đã tham gia sáu công bố khoa học trong nước và quốc tế, trong đó theo Trường Hóa và Khoa học Sự sống có các bài thuộc nhóm Q1 và Q2.
Nhưng nếu chỉ nhìn vào số bài báo hay giải thưởng, câu chuyện của Phượng rất dễ trở thành một bảng thành tích. Một lát cắt rõ hơn về năng lực nghiên cứu của cô nằm ở đề tài mà Phượng thực hiện cùng Vũ Thị Mai Lan và Trần Thị Phương: phát triển vật liệu nanocompozit B/ZnO và đánh giá khả năng quang xúc tác phân hủy tetracycline hydrochloride trong nước. Đề tài do PGS.TS Vũ Anh Tuấn hướng dẫn, giành giải Nhất báo cáo nghiên cứu khoa học cấp Đại học.
Từ một chất ô nhiễm đến bài toán vật liệu
Tetracycline là một loại kháng sinh. Khi nghiên cứu xử lý dư lượng dược chất trong nước, bài toán của nhóm Phượng không dừng ở việc tạo ra một vật liệu mới, mà phải xem vật liệu ấy có khả năng thúc đẩy quá trình phân hủy chất ô nhiễm hiệu quả đến đâu.
Nhóm sử dụng phương pháp sol-gel để tổng hợp nano ZnO và nanocompozit B/ZnO. Theo kết quả được Trường Hóa và Khoa học Sự sống công bố, hạt ZnO ban đầu có kích thước không đồng đều khoảng 42–79 nm; sau khi pha tạp boron, vật liệu B/ZnO thu được có kích thước tương đối đồng đều khoảng 15 nm.
Các thông số tổng hợp tiếp tục được điều chỉnh để tìm điều kiện phù hợp. Kết quả cho thấy hàm lượng boron tối ưu ở mức 3% khối lượng; điều kiện được nhóm lựa chọn gồm ethanol làm dung môi, nhiệt độ 60°C và pH 8. Ở điều kiện thử nghiệm được công bố, vật liệu B/ZnO loại bỏ 98,28% tetracycline hydrochloride sau 90 phút.
Con số 98,28% đáng chú ý, nhưng cần được đọc đúng giới hạn. Đây là kết quả của một nghiên cứu sinh viên trong các điều kiện thí nghiệm cụ thể, chưa đồng nghĩa vật liệu đã trở thành công nghệ xử lý nước ở quy mô thực tế. Khoảng cách từ hiệu suất trong phòng thí nghiệm đến một hệ xử lý có thể vận hành ổn định ngoài môi trường còn liên quan tới nhiều bài toán như độ bền vật liệu, khả năng tái sử dụng, năng lượng, chi phí và đặc tính của nguồn nước thực.
![]() |
| Nguyễn Thị Phượng làm thí nghiệm tại phòng 425, Trường Hóa và Khoa học Sự sống. Ảnh: Trường Hóa và Khoa học Sự sống. |
Câu chuyện này nối với một vấn đề mà Phụ nữ Mới từng đề cập trong bài xử lý thuốc kháng sinh trong môi trường nước Công trình trước đó sử dụng một hệ vật liệu khác để xử lý ciprofloxacin và levofloxacin, cho thấy dư lượng kháng sinh trong nước đã trở thành một hướng nghiên cứu riêng của công nghệ môi trường.
Điều làm đề tài của nhóm Phượng có nét riêng là việc điều chỉnh chính cấu trúc và điều kiện tổng hợp B/ZnO để tăng hoạt tính quang xúc tác đối với tetracycline. Ở đây, hóa học vật liệu được kéo vào một bài toán môi trường cụ thể thay vì dừng lại ở việc mô tả đặc tính của vật liệu.
Bước vào phòng thí nghiệm từ năm nhất
Nguồn chính thức của Trường Hóa và Khoa học Sự sống cho biết tình yêu Hóa học của Phượng bắt đầu từ thời phổ thông. Đến cuối năm thứ nhất tại Bách khoa Hà Nội, cô bắt đầu tham gia phòng thí nghiệm.
Việc vào phòng lab sớm không tự động tạo nên một nhà nghiên cứu trẻ. Phần quan trọng hơn nằm ở cách một sinh viên dần học được quy trình làm khoa học: đọc tài liệu, xây dựng giả thiết, kiểm soát điều kiện thí nghiệm, ghi nhận kết quả không như mong muốn và quay lại thay đổi phương án.
Trong bài giới thiệu nhân vật tháng 6/2026, Trường Hóa và Khoa học Sự sống ghi lại việc Phượng từng trải qua những thí nghiệm phải lặp lại nhiều lần. Cô nhìn sự kiên trì không phải là tiếp tục làm cùng một việc bằng mọi giá, mà phải biết học từ kết quả để điều chỉnh hướng đi.
Đó cũng là chi tiết đáng chú ý hơn những cách kể quen thuộc về “đam mê nghiên cứu”. Trong phòng thí nghiệm, một kết quả không đạt dự kiến vẫn có giá trị nếu giúp người làm nghiên cứu xác định được giả định nào chưa đúng, thông số nào cần thay đổi hoặc câu hỏi nào cần đặt lại.
![]() |
| Nguyễn Thị Phượng trình bày đề tài nghiên cứu khoa học. Theo Trường Hóa và Khoa học Sự sống, đề tài của nhóm đạt giải Nhất cấp Đại học. Ảnh: Trường Hóa và Khoa học Sự sống. |
Trường cho biết đến năm 2026, Phượng đã có sáu công bố trong nước và quốc tế, trong đó có công bố thuộc nhóm Q1 và Q2; đồng thời từng đạt giải Ba nghiên cứu khoa học cấp trường cùng các giải Nhất, Nhì cấp Đại học.
Ở đây cần giữ đúng vai trò: những công trình khoa học là sản phẩm của nhóm nghiên cứu, có người hướng dẫn và cộng sự. Chính trang giới thiệu của trường cũng cho thấy Phượng nhắc nhiều tới thầy cô, anh chị trong phòng thí nghiệm và những người cùng thực hiện đề tài. Vì vậy, không nên chuyển thành câu chuyện “một nữ sinh tự mình tạo ra vật liệu xử lý kháng sinh”.
Một người trẻ học cách đứng trong tập thể nghiên cứu
Đề tài B/ZnO thể hiện khá rõ điều này. Danh sách chính thức ghi ba sinh viên thực hiện gồm Vũ Thị Mai Lan, Trần Thị Phương và Nguyễn Thị Phượng; PGS.TS Vũ Anh Tuấn là giảng viên hướng dẫn. Nguồn hiện có không cung cấp Author Contributions hoặc tỷ lệ đóng góp riêng của từng thành viên, vì vậy chưa có cơ sở để quy toàn bộ phương pháp, kết quả hay ý tưởng cho riêng Phượng.
Nhưng đối với một gương mặt trẻ, việc tham gia được vào một quy trình nghiên cứu có kết quả định lượng, phải tối ưu vật liệu và trình bày công trình trước hội đồng đã là một chỉ dấu khác với thành tích học tập thông thường.
Điểm đáng quan tâm còn nằm ở quá trình chuyển vai trò. Hình ảnh được Trường Hóa và Khoa học Sự sống công bố cho thấy Phượng không chỉ làm thí nghiệm mà còn tham gia hướng dẫn những sinh viên khóa sau trong phòng lab. Đây là một mắt xích nhỏ nhưng quan trọng của môi trường nghiên cứu: kiến thức thực hành được chuyển tiếp từ người đã làm trước sang người mới bước vào.
Những con số từ nghiên cứu B/ZnO
Nhóm sinh viên Vũ Thị Mai Lan, Trần Thị Phương và Nguyễn Thị Phượng, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Anh Tuấn, tổng hợp nano ZnO và nanocompozit B/ZnO bằng phương pháp sol-gel. Theo kết quả do Trường Hóa và Khoa học Sự sống công bố, vật liệu B/ZnO có kích thước hạt khoảng 15 nm sau khi pha tạp boron. Hàm lượng boron tối ưu được xác định ở mức 3% khối lượng; điều kiện tổng hợp phù hợp gồm ethanol, 60°C và pH 8. Trong điều kiện thí nghiệm, vật liệu loại bỏ 98,28% tetracycline hydrochloride sau 90 phút, với năng lượng điện tiêu thụ được báo cáo là 35,44 Wh/L. Các số liệu này chưa đồng nghĩa với hiệu quả ở quy mô xử lý nước thực tế.
Không biến nghiên cứu trẻ thành một bảng thành tích
Phụ nữ Mới gần đây đã có nhiều bài về nữ sinh Bách khoa Hà Nội theo đuổi nghiên cứu, trong đó có Nguyễn Ngọc Mai với khoa học thực phẩm hay Phạm Thị Thanh Thúy với tinh bột tiêu hóa chậm.
Vì vậy, điểm để câu chuyện Nguyễn Thị Phượng không lặp lại mô-típ “nữ sinh học giỏi, đam mê khoa học” phải nằm ở một vấn đề cụ thể: cô đã bước vào nghiên cứu từ sớm và tham gia một nhóm sử dụng hóa học vật liệu để tìm cách xử lý một dược chất tồn tại trong môi trường nước.
Câu chuyện này cũng có thể nối tự nhiên với những vật liệu siêu nhỏ và tham vọng giải những bài toán lớn, nơi Phụ nữ Mới từng đề cập khả năng sử dụng các vật liệu nano và vật liệu tổ hợp trong quang xúc tác xử lý chất ô nhiễm.
Ở tuổi 22, theo hồ sơ của trường, Phượng dự định tiếp tục học cao hơn sau khi tốt nghiệp để theo đuổi nghiên cứu. Nhưng điều đáng chú ý ở thời điểm hiện tại không phải một dự báo rằng cô sẽ trở thành nhà khoa học như thế nào. Giá trị đã nhìn thấy nằm ở cách một sinh viên còn trên ghế đại học từng bước học cách đặt câu hỏi, làm thí nghiệm, chấp nhận kết quả không thuận lợi và làm việc trong một nhóm nghiên cứu.
Từ vật liệu B/ZnO đến 98,28% tetracycline được loại bỏ trong một phép thử còn là một khoảng cách dài nếu muốn đi tới công nghệ xử lý nước ngoài thực tế. Với Nguyễn Thị Phượng, khoảng cách ấy cũng giống con đường phía trước của một người nghiên cứu trẻ: kết quả ban đầu không phải điểm kết thúc, mà là dữ liệu để biết câu hỏi tiếp theo cần được đặt ở đâu.
Nguồn box: Trường Hóa và Khoa học Sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội Link nguồn: https://scls.hust.edu.vn/vi/news/diem-tin/danh-sach-nhom-sinh-vien-da-dat-giai-sinh-vien-nghien-cuu-khoa-hoc-cap-dai-hoc-220.html





















Xử lý thuốc kháng sinh trong môi trường nước
Những vật liệu siêu nhỏ và tham vọng giải những bài toán lớn
Nữ sinh Đại học Bách khoa theo đuổi khoa học ứng dụng gắn với sức khỏe cộng đồng và phát triển bền vững
Nữ sinh Bách khoa và hành trình tìm lời giải cho thực phẩm tốt hơn
Cùng chuyên mục
Nguyễn Thị Phượng và bài toán xử lý kháng sinh trong nước
Nữ thủ khoa Luật Quốc tế nhận 6 lời mời học thạc sĩ từ các đại học châu Âu
Nghiên cứu công nghệ chỉnh sửa gen giúp nữ cử nhân Việt giành học bổng tiến sĩ NTU
Nữ sinh tốt nghiệp xuất sắc và lựa chọn gắn bó với nghiên cứu khoa học
Á khoa ngành Sinh học nhận học bổng tiến sĩ trường top 12 thế giới, tiếp nối giấc mơ khoa học của mẹ
Nữ sinh từng đoạt giải Nhất quốc gia trở thành thủ khoa khoa Lịch sử Trường ĐH Sư phạm Hà Nội