![]() |
| PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền, Trưởng khoa Kinh tế và Quản lý, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, phát biểu tại một hoạt động nghiên cứu tháng 1/2026. Ảnh: Ninh Xuân Trung/VNUA. |
Một hộ nuôi bò có thể tận dụng phân làm phân bón, một gia đình có thể dùng rơm làm thức ăn chăn nuôi hoặc ủ hữu cơ. Nhưng khi hàng trăm hộ cùng sản xuất, phụ phẩm phát sinh rải rác, người có nguyên liệu không nhất thiết là người có công nghệ xử lý, còn sản phẩm sau tái chế lại cần nơi tiêu thụ. Kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp vì thế không chỉ là câu chuyện tìm thêm một công dụng cho thứ từng bị bỏ đi. Phần khó nằm ở cách tổ chức dòng vật chất giữa nhiều chủ thể.
Đó là vấn đề mà PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền, Trưởng khoa Kinh tế và Quản lý, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cùng nhóm nghiên cứu theo đuổi trong nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia về quản lý chất thải, phụ phẩm nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn tại Đồng bằng sông Hồng. Ngày 4/8/2026, nhiệm vụ được Hội đồng đánh giá cấp quốc gia thống nhất nghiệm thu sau quá trình nghiên cứu và triển khai mô hình thực tế. PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền là chủ nhiệm nhiệm vụ.
Nhóm nghiên cứu không dừng ở việc tổng hợp các phương pháp xử lý chất thải. Công việc bao gồm xây dựng cơ sở lý thuyết, xác định những rào cản, phân tích cách huy động nguồn lực và phát triển mô hình quản lý ở cấp cộng đồng. Một mô hình thực tế được triển khai tại xã Đại Sơn, thành phố Hải Phòng; ba bài báo khoa học trong nước và hoạt động hỗ trợ đào tạo một nghiên cứu sinh cũng nằm trong các sản phẩm của nhiệm vụ.
Một vòng tuần hoàn cần nhiều người cùng tham gia
Tháng 3/2026, PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền cùng Mai Lan Phương, Bạch Văn Thủy, Đỗ Thị Nhài và Nguyễn Thị Phương công bố nghiên cứu về quản lý phụ phẩm nông nghiệp theo hướng tuần hoàn ở cấp cộng đồng. Nhóm phân tích có hệ thống 50 công trình khoa học và tài liệu chính sách trong và ngoài nước để khái quát mối quan hệ giữa điều kiện đầu vào, cách thức vận hành và những kết quả môi trường - xã hội của một mô hình tuần hoàn. Đây là công trình tập thể; PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền là đồng tác giả chứ không phải tác giả duy nhất.
Cách tiếp cận ở cấp cộng đồng xuất phát từ đặc điểm sản xuất nông nghiệp nhỏ và phân tán. Nếu mỗi hộ chỉ xử lý phần phát sinh trong trang trại của mình, một số dòng phụ phẩm có thể được quay lại sản xuất, nhưng những loại đòi hỏi thu gom, công nghệ, vốn hoặc thị trường đầu ra khó hình thành vòng tuần hoàn ổn định. Nghiên cứu vì vậy phân biệt những mô hình khép kín trong một đơn vị sản xuất với các hệ thống mở, nơi phụ phẩm được chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác để tiếp tục tạo giá trị.
![]() |
| PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền trình bày báo cáo tổng kết nhiệm vụ về quản lý chất thải và phụ phẩm nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn tại buổi nghiệm thu ngày 4/8/2026. Ảnh: VNUA. |
Một bài báo khác của nhóm, xuất bản ngày 27/8/2026, đưa câu hỏi này trở lại thực tế Hải Phòng. Vũ Việt Hà, Đỗ Thị Nhài, PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền cùng bốn đồng tác giả khảo sát 92 đối tượng, gồm hộ và trang trại, đơn vị thu gom, tái sử dụng, tái chế và tiêu thụ chất thải. Kết quả cho thấy ba dạng quản lý chính đang tồn tại: tuần hoàn kín, tuần hoàn mở và thu hồi năng lượng. Tuy vậy, tỷ lệ thải bỏ vẫn còn cao.
Nhóm xác định các khó khăn không nằm ở một mắt xích duy nhất. Cơ chế hỗ trợ và nguồn lực triển khai còn hạn chế; nông dân gặp trở ngại về nhận thức và điều kiện sản xuất; hạ tầng thu gom, tái chế chưa hoàn chỉnh; sự phối hợp giữa những bên tham gia còn yếu. Kết quả này cũng cho thấy vì sao chỉ đưa một công nghệ xử lý xuống địa phương chưa đủ để hình thành kinh tế tuần hoàn. Công nghệ phải nằm trong một hệ thống có người cung cấp nguyên liệu, người vận hành, nguồn vốn, quy trình thu gom và đầu ra cho sản phẩm sau xử lý.
Đây cũng là điểm phân biệt công trình của nhóm với nhiều câu chuyện quen thuộc về “biến rác thành tài nguyên”. Một sản phẩm từ rơm, phân chuồng hay phụ phẩm cây trồng có thể chứng minh khả năng kỹ thuật trong một mô hình cụ thể, nhưng một vòng tuần hoàn ở quy mô cộng đồng còn phải giải quyết bài toán phối hợp giữa các hộ và giữa sản xuất với thị trường.
Khi câu hỏi của nông dân đi vào mô hình nghiên cứu
Cuối năm 2025, nhóm nghiên cứu mang kết quả mô hình trở lại xã Đại Sơn để trao đổi với hơn 40 đại diện hộ nông dân cùng cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương. Những câu hỏi tại đây rất cụ thể: xử lý rơm rạ thế nào, ủ thức ăn cho trâu bò ra sao, dùng đệm lót sinh học, nuôi giun quế hay ruồi lính đen như thế nào và lấy giống, chế phẩm sinh học ở đâu.
Nhóm cũng xây dựng mô hình tại một hộ sản xuất ở Đại Sơn để kiểm nghiệm cách tổ chức quản lý phụ phẩm ở điều kiện thực tế. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa mô hình thử nghiệm với một hệ thống đã được nhân rộng. Hội đồng nghiệm thu đánh giá mô hình có ý nghĩa thực tiễn và khả năng lan tỏa, nhưng đây chưa phải bằng chứng rằng mô hình đã được triển khai trên toàn xã, toàn thành phố hoặc đã tạo ra hiệu quả tương tự ở những địa phương khác.
![]() |
| Người dân và các nhà khoa học trao đổi kết quả mô hình quản lý chất thải, phụ phẩm nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn tại xã Đại Sơn, Hải Phòng, tháng 12/2025. Ảnh: VNUA. |
Chuỗi nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền còn được đặt trong một hướng chuyên môn rộng hơn. Bà cùng TS. Mai Lan Phương chủ biên cuốn Kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp – Lý luận và thực tiễn, giới thiệu các nội dung từ cơ sở lý luận, chỉ số đo lường đến kinh nghiệm và triển vọng phát triển tại Việt Nam. Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam giới thiệu tài liệu này tháng 6/2026.
Thời điểm nhiệm vụ được nghiệm thu cũng trùng với giai đoạn kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp đang chuyển từ định hướng sang yêu cầu triển khai cụ thể hơn. Đề án quốc gia đến năm 2030 đặt ra các dự án khoa học - công nghệ riêng cho trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp; tháng 4/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục thảo luận hướng triển khai giai đoạn 2026–2030 theo mô hình cộng sinh giữa các chủ thể.
Trong bối cảnh ấy, đóng góp có thể xác định rõ ở PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền là vai trò chủ nhiệm một nhiệm vụ đưa bài toán phụ phẩm từ cấp độ từng công nghệ sang cấp độ quản lý cộng đồng. Các kết quả không cho phép kết luận rằng đã có một mô hình tối ưu cho mọi vùng nông nghiệp. Chúng chỉ ra điều khó hơn nhưng thiết thực hơn: để một thứ “không còn là rác”, không chỉ cần biết biến nó thành gì mà còn phải biết ai thu gom, ai xử lý, ai sử dụng và lợi ích được nối lại thành một vòng như thế nào.
















Nguyên liệu mới từ những thứ bỏ đi: Rơm rạ, thân sen, vỏ xoài
Biến phụ phẩm thành vật liệu thay thế nhựa
“Đánh thức” giá trị nông sản Việt từ phòng thí nghiệm của những nữ khoa học gia Bách khoa
Cùng chuyên mục
Đưa phụ phẩm nông nghiệp vào vòng tuần hoàn của cộng đồng
Tăng trưởng kinh tế phải trả giá bằng bao nhiêu phát thải?
Nhà khoa học Việt Nam mang câu chuyện cây thuốc bản địa đến Đại hội Dược học Dân tộc tại Italia
Nghiên cứu sinh Nguyễn Huỳnh Thanh Phương dùng ngôn ngữ truyền thông kể chuyện văn hoá bản địa
Tiến sĩ Lê Thị Tưởng với trăn trở nâng cao nhận thức an toàn thực phẩm cho học sinh, sinh viên
TS. Phạm Minh Trang giảm kim loại trong xúc tác điện phân nước