Thực tế cho thấy, hiệu quả sản xuất chỉ được bảo đảm khi các biện pháp phòng trừ dịch hại được triển khai đồng bộ, đúng kỹ thuật và gắn với quản lý sức khỏe cây trồng ngay từ đầu vụ, thay vì chỉ tập trung xử lý khi dịch hại bùng phát.
Từ năm 2017 đến 2020, TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Bảo vệ thực vật đã triển khai đề tài “Nghiên cứu thành phần và biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại trên cây chanh leo ở Việt Nam”. Nghiên cứu không chỉ góp phần làm rõ hệ sinh vật gây hại trên cây chanh leo mà còn xây dựng thành công quy trình phòng trừ tổng hợp, hướng tới giảm thiểu sử dụng hóa chất và nâng cao hiệu quả canh tác trong thực tiễn. Từ những kết quả nghiên cứu cụ thể và kinh nghiệm triển khai thực tế, TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc, Phó Viện trưởng Viện Bảo vệ thực vật, Ủy viên BCH Hội Nữ trí thức Việt Nam chia sẻ thêm những góc nhìn chuyên môn về việc kiểm soát dư lượng hóa chất trong cây trồng, cũng như các giải pháp khoa học đang được áp dụng nhằm bảo đảm an toàn, chất lượng và tính bền vững của sản xuất nông nghiệp hiện nay.
![]() |
| TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc, Phó Viện trưởng Viện Bảo vệ thực vật, Ủy viên BCH Hội Nữ trí thức Việt Nam |
Theo chị, trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây trồng còn gặp những vấn đề nào cần được quan tâm và các nguyên nhân chính của những vấn đề đó là gì?
Nguy cơ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hiện nay chủ yếu xuất phát từ thực tiễn sản xuất khi người nông dân còn gặp khó khăn trong việc nhận diện chính xác triệu chứng sâu bệnh, đặc biệt ở giai đoạn mới phát sinh. Trên nhiều cây trồng, dịch hại thường xuất hiện phức hợp, dễ gây nhầm lẫn, dẫn đến phòng trừ chưa đúng đối tượng và phải xử lý nhiều lần.
Bên cạnh đó, tại các vùng canh tác lâu năm, sức khỏe đất suy giảm làm gia tăng các bệnh trong đất, bệnh virus và hiện tượng một số đối tượng dịch hại thích nghi tốt hơn với biện pháp phòng trừ, khiến hiệu quả sử dụng thuốc không cao. Trong bối cảnh đó, một bộ phận người sản xuất vẫn canh tác theo kinh nghiệm, chưa chú trọng đầy đủ đến cải tạo đất, sử dụng cây giống khỏe, sạch bệnh, dẫn đến sự phụ thuộc lớn hơn vào phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
Được biết, nghiên cứu “Nghiên cứu thành phần và biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại trên cây chanh leo ở Việt Nam” của chị và nhóm nghiên cứu đã đạt được những kết quả tích cực. Vậy những yếu tố nào trong quy trình phòng trừ tổng hợp đã góp phần làm giảm sử dụng thuốc hóa học và hạn chế dư lượng trên cây chanh leo?
Các kết quả nghiên cứu và triển khai trên cây chanh leo cho thấy, quản lý dịch hại hiệu quả cần được thực hiện trên nền tảng theo dõi đồng ruộng thường xuyên, nhận diện sớm và đúng đối tượng gây hại để có biện pháp can thiệp kịp thời.
![]() |
| Nghiên cứu “Nghiên cứu thành phần và biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại trên cây chanh leo ở Việt Nam” của TS Nguyễn Thị Bích Ngoan và nhóm nghiên cứu đã đạt được những kết quả tích cực. |
Viện Bảo vệ thực vật đã xác định được triệu chứng của 6 loại bệnh virus trên cây chanh leo, đồng thời làm rõ vai trò của các tác nhân gây bệnh tồn tại trong đất – nhóm đối tượng rất khó phòng trừ bằng biện pháp hóa học. Trên cơ sở đó, Viện khuyến cáo người dân nhổ bỏ sớm cây bệnh, sử dụng giống sạch bệnh virus, kết hợp các biện pháp sinh học và canh tác nhằm quản lý nguồn bệnh ngay từ đầu.
Cách tiếp cận này nằm trong khung quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), trong đó IPM là một hợp phần quan trọng. IPHM không chỉ tập trung vào xử lý dịch hại mà chú trọng nâng cao sức khỏe cây trồng thông qua giống khỏe, quản lý sức khỏe đất, dinh dưỡng hợp lý và sử dụng biện pháp sinh học. Nhờ đó, số lần phun thuốc giảm rõ rệt, nguy cơ dư lượng được kiểm soát tốt hơn, đồng thời nâng cao hiệu quả và chất lượng nông sản.
![]() |
Xin chị chia sẻ những đóng góp nổi bật của Viện Bảo vệ thực vật trong nghiên cứu và thúc đẩy ứng dụng các giải pháp sinh học trong bảo vệ cây trồng, hướng tới giảm dần việc sử dụng thuốc hóa học?
Thực hiện chủ trương giảm dần sử dụng thuốc hóa học, Viện Bảo vệ thực vật đã và tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các giải pháp sinh học…như vi sinh vật đối kháng, chế phẩm sinh học, thiên địch, pheromon, vacxin thực vật… và các biện pháp canh tác thân thiện với môi trường. Các kết quả này được lồng ghép trong quy trình IPHM và từng bước chuyển giao cho địa phương, doanh nghiệp và người sản xuất.
![]() |
Việc ứng dụng các giải pháp sinh học cần kết hợp với các biện pháp giống sạch bệnh, giống chống chịu, cải tạo đất, dinh dưỡng đầy đủ cân đối, giúp giảm áp lực sử dụng thuốc hóa học, góp phần duy trì cân bằng sinh thái đồng ruộng, cải thiện sức khỏe đất và hướng tới sản xuất nông nghiệp xanh, phát thải thấp.
Chị có thể cho biết, các nghiên cứu về giống cây trồng có khả năng chống chịu sâu bệnh đã đóng góp như thế nào đối với việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững?
Giống cây trồng khỏe, có khả năng chống chịu sâu bệnh là nền tảng quan trọng trong quản lý dịch hại bền vững, đồng thời kết hợp với các biện pháp kỹ thuật nhằm phát huy tối đa khả năng chống chịu của cây trồng.
Khi sử dụng cây giống khỏe, sạch bệnh ngay từ đầu kết hợp với cải tạo đất để giảm nguồn bệnh tồn tại trong đất gây hại cho cây mới trồng, cây sinh trưởng ổn định hơn, giảm nhu cầu can thiệp bằng thuốc bảo vệ thực vật, qua đó góp phần kiểm soát dư lượng và nâng cao giá trị nông sản.
![]() |
Trong thời gian tới, với sự phát triển của các công nghệ chọn tạo giống tiên tiến, nhiều giống cây trồng mới được kỳ vọng sẽ tiếp tục ra đời, góp phần thay đổi căn bản phương thức sản xuất, nâng cao hiệu quả, tính bền vững và khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.
Tại cuộc Tổng kết hoạt động năm 2025 của Chi hội nũ trí thức Costas, PGS.TS Nguyễn Minh Tân có chia sẻ về việc đang triển khai dự án Mật ong thảo mộc và đã có trao đổi với chị về hướng phát triển. Xin chị cho biết thêm, khả năng phối hợp nghiên cứu cho dự án này hiện ra sao?
Việc kết hợp nghiên cứu giữa lĩnh vực bảo vệ thực vật với các mô hình sản xuất gắn với hệ sinh thái tự nhiên, như dự án Mật ong thảo mộc, là hướng tiếp cận rất phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp xanh và tuần hoàn hiện nay. Các hệ thống canh tác được quản lý tốt, giảm sử dụng hóa chất và tăng cường các biện pháp sinh học không chỉ giúp cây trồng khỏe hơn mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các loài sinh vật có ích phát triển, trong đó có các loài côn trùng thụ phấn.
![]() |
Qua trao đổi bước đầu, hai bên đều nhận thấy nhiều tiềm năng hợp tác, đặc biệt trong nghiên cứu mối liên hệ giữa biện pháp canh tác an toàn, sức khỏe hệ sinh thái nông nghiệp và chất lượng sản phẩm đầu ra. Hiện nay, các nội dung phối hợp mới đang ở giai đoạn trao đổi chuyên môn, làm rõ hướng nghiên cứu và khả năng triển khai thực tế, hướng tới xây dựng các mô hình sản xuất hài hòa giữa bảo vệ thực vật, bảo tồn sinh học và phát triển giá trị gia tăng cho nông nghiệp.
Trước yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm và phát triển nông nghiệp xanh, theo chị cần những giải pháp đồng bộ nào để kiểm soát hiệu quả dư lượng hóa chất trong nông nghiệp?
Kiểm soát dư lượng hóa chất không chỉ là câu chuyện của riêng khâu sử dụng thuốc, mà cần được nhìn nhận một cách tổng thể từ giống, đất, nước, dinh dưỡng đến tổ chức sản xuất và năng lực của người nông dân.
![]() |
Khi các giải pháp này được triển khai đồng bộ, người sản xuất không chỉ giảm rủi ro dư lượng mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế, chất lượng nông sản và khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Trân trọng cảm ơn chị.
























Thuốc bảo vệ thực vật có phải 'tội đồ' của an toàn thực phẩm?
Hà Nội thu giữ lượng thuốc bảo vệ thực vật giả lớn nhất từ trước đến nay
Gần 50% mẫu rau quả ở chợ đầu mối TP.HCM có dư lượng hóa chất
100% nhà cung cấp rau củ quả tại Bách Hóa Xanh tham gia chương trình “Tick Xanh Trách Nhiệm"
Giá nhiều loại rau củ, trái cây hạ nhiệt sau Tết
Loại bỏ vỏ trái cây và rau củ, bạn đang lãng phí nguồn dinh dưỡng không ngờ
Cùng chuyên mục
TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc: Kiểm soát dư lượng hóa chất bắt đầu từ quản lý dịch hại tổng hợp
Cô giáo Vàng Thị Dính - người "thắp lửa" STEM, Robot trên cao nguyên đá
GS.TS Ngô Thị Phương Lan và vai trò của khoa học xã hội trong phát triển vùng
Nữ bác sĩ đầu tiên điều khiển robot phẫu thuật sản phụ khoa
Chọn giống tốt, dùng AI đúng cách: Góc nhìn từ hai nữ trí thức Việt tại châu Âu
Nữ tiến sĩ trở về từ Nhật Bản mang theo hoài bão thực hành “quản trị bằng yêu thương”