![]() |
| Ảnh minh họa: AI |
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên dược liệu đa dạng, đứng thứ ba thế giới với hơn 5.117 loài cây thuốc và nấm, 408 loài động vật, 52 loài tảo biển và 75 loại khoáng vật được sử dụng làm thuốc. Đây là nguồn tài nguyên có giá trị đối với y học cổ truyền, đồng thời tạo dư địa phát triển công nghiệp dược và kinh tế sinh học.
Tại Hội thảo “Phát triển dược liệu sạch, khởi nguồn giá trị y học cổ truyền từ nông nghiệp bền vững”, tổ chức chiều 4/9 tại Hà Nội, Phó Giáo sư Nguyễn Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Đông Y Việt Nam, cho rằng phát huy nguồn dược liệu trong nước cần gắn với việc nâng cao vai trò của y học cổ truyền trong hệ thống chăm sóc sức khỏe. Cùng với đó, các nguồn gene và tri thức về dược liệu cần được bảo tồn, nghiên cứu và phát triển thành những sản phẩm có giá trị cao hơn.
Định hướng này phù hợp với Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó nhấn mạnh việc xác định đúng vị thế, vai trò của y tế dự phòng, y tế cơ sở và y học cổ truyền; phát huy tiềm năng của y học cổ truyền, nâng cao năng lực hệ thống và tăng cường kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong đào tạo, phòng bệnh, khám và chữa bệnh.
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên phong phú chưa đồng nghĩa với khả năng tự chủ về nguyên liệu. Dược sĩ Ngô Mạnh Trí, Cố vấn Viện Đông Y Việt Nam, cho biết nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước hiện khoảng 60.000-80.000 tấn mỗi năm, nhưng nguồn cung nội địa mới đáp ứng được 25-30%.
Phần lớn sản phẩm dược liệu trong nước vẫn dừng ở khâu sản xuất thô hoặc sơ chế đơn giản, khiến giá trị gia tăng chưa cao. Năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng chưa tương xứng với tiềm năng tài nguyên.
Việt Nam hiện có khoảng 350.000 ha có thể dành cho canh tác và phát triển dược liệu, trong đó hơn 220.000 ha là đất lâm nghiệp, dưới tán rừng và hơn 130.000 ha đất nông nghiệp. Diện tích cây dược liệu hiện đạt gần 59.000 ha; 107 giống thuộc 58 loài đã được quản lý và công bố lưu hành.
Dù vậy, vùng nguyên liệu vẫn phát triển phân tán, nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ. Điều này gây khó khăn cho việc áp dụng công nghệ cao và hình thành chuỗi giá trị khép kín. Số vùng trồng tập trung đạt tiêu chuẩn GACP-WHO còn hạn chế, trong khi sự liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người nông dân chưa chặt chẽ.
Việc khai thác tự nhiên quá mức, thiếu kiểm soát cũng tạo sức ép lên nguồn gene của nhiều loài dược liệu quý. Tình trạng thu hái tận diệt, không đi kèm biện pháp bảo vệ và tái sinh, có nguy cơ làm suy giảm nguồn tài nguyên vốn được xem là lợi thế của Việt Nam.
Ở khâu tiêu thụ, nghịch lý cũng xuất hiện khi có những hợp tác xã trồng hàng trăm tấn dược liệu nhưng sau thu hái lại không tìm được đầu ra. Nếu không tiêu thụ kịp thời, dược liệu có thể bị bỏ đi, dù trước đó đã mất nhiều thời gian và chi phí để nuôi trồng.
Thạc sĩ Hoàng Thị Yến, giảng viên Khoa Dược, Trường Đại học Đông Đô, cho rằng khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và phát triển vùng dược liệu vẫn còn đáng kể. Không ít cơ sở vẫn canh tác chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thiếu quy trình chuẩn hóa và nguồn vốn đầu tư dài hạn.
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu khoa học có thể tham gia vào gần như toàn bộ chuỗi giá trị dược liệu, từ bảo tồn nguồn gene, chọn tạo giống đến kiểm soát hoạt chất, đánh giá độ an toàn và hiệu quả dược lý của sản phẩm.
Các chương trình nghiên cứu có thể hướng tới chọn tạo những giống dược liệu có hàm lượng hoạt chất cao, thích ứng tốt hơn với điều kiện biến đổi khí hậu. Ở giai đoạn tiếp theo, nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng giúp cung cấp bằng chứng khoa học về độ an toàn, hiệu quả dược lý, thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm sử dụng truyền thống.
Công nghệ sinh học được xác định là một hướng quan trọng để nâng cao chất lượng nguyên liệu. Cùng với việc bảo tồn, lưu giữ nguồn gene dược liệu quý hiếm, đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng, mục tiêu đặt ra là phấn đấu để 80-90% nguồn giống dược liệu đưa vào sản xuất đạt tiêu chuẩn chất lượng.
Ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống và nhân giống sạch bệnh được kỳ vọng giúp kiểm soát tốt hơn chất lượng nguyên liệu, đồng thời duy trì hàm lượng hoạt chất phù hợp với yêu cầu sản xuất.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số có thể hỗ trợ kiểm soát toàn bộ quá trình từ vùng trồng, thu hái, sơ chế đến bảo quản và đưa sản phẩm ra thị trường. Hệ thống truy xuất nguồn gốc giúp tăng khả năng kiểm soát chất lượng, hạn chế tình trạng dược liệu không rõ xuất xứ và tạo cơ sở nâng cao niềm tin của thị trường đối với sản phẩm trong nước.
Để nghiên cứu khoa học chuyển hóa thành quy trình sản xuất và sản phẩm thương mại, doanh nghiệp cần đóng vai trò kết nối nhà khoa học với người trồng dược liệu. Các hoạt động tập huấn kỹ thuật trồng, thu hái, chế biến và xây dựng đầu ra ổn định cho vùng nguyên liệu cần được triển khai đồng bộ.
Khi các chủ thể cùng tham gia một chuỗi liên kết, kết quả nghiên cứu mới có điều kiện được ứng dụng vào sản xuất, thay vì dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm hoặc mô hình thử nghiệm.
Cùng với phát triển nguồn nguyên liệu trong nước, việc kiểm soát dược liệu nhập khẩu cũng cần được tăng cường, đặc biệt đối với nguồn hàng không rõ nguồn gốc hoặc nhập khẩu qua đường tiểu ngạch.
Định hướng của Bộ Y tế, thời gian tới, ngành y tế sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và các văn bản pháp luật liên quan đến dược liệu, trọng tâm là Luật Y dược cổ truyền; xây dựng tiêu chuẩn quốc gia đối với dược liệu, vị thuốc cổ truyền và đẩy mạnh Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển vùng dược liệu quý.
Khoa học công nghệ, chuyển đổi số và công nghệ sinh học sẽ được đẩy mạnh trong các khâu nuôi trồng, chế biến và truy xuất nguồn gốc. Cùng với đó là chuyển giao kỹ thuật nuôi trồng, sơ chế, bảo quản hiện đại và thu hút doanh nghiệp chủ lực tham gia dẫn dắt chuỗi cung ứng.
Đây cũng là hướng triển khai trong lĩnh vực y tế theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Với ngành dược liệu, yêu cầu đặt ra không chỉ là khai thác tốt hơn nguồn tài nguyên sẵn có mà quan trọng hơn là biến nguồn tài nguyên sinh học thành nguyên liệu đạt chuẩn, sản phẩm có bằng chứng khoa học và chuỗi giá trị có khả năng cạnh tranh.
Nếu thực hiện đồng bộ, việc ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số có thể góp phần thay đổi phương thức phát triển dược liệu từ khai thác tự phát, manh mún sang sản xuất có kiểm soát, dựa trên dữ liệu và tiêu chuẩn. Đây là cơ sở để nâng cao giá trị dược liệu Việt Nam, đồng thời củng cố vai trò của y học cổ truyền trong hệ thống chăm sóc sức khỏe hiện đại.



















Từ bồ hòn và thảo dược, phát triển các sản phẩm thân thiện với môi trường
Ứng dụng công nghệ sinh học trong việc nhân giống thảo dược quý hiếm invitro
Công nghệ cao nâng giá trị thảo dược Việt Nam
Viên An Đường Đông Bắc: Giải pháp thảo dược hỗ trợ đường huyết đạt OCOP 4 sao
Cùng chuyên mục
Việt Nam cần công nghệ để nâng giá trị kho dược liệu
Bộ Khoa học và Công nghệ quy định 11 nhóm vị trí phải định kỳ chuyển đổi
Hơn 500 tân sinh viên du lịch Nha Trang trải nghiệm thực tế, nhận quà áo dài đầu năm học
Từ giảng đường đến biển đảo: Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua những “bài học sống động”
Tặng quà cho hàng trăm phụ nữ nghèo ở vùng cao Quảng Ngãi
HoREA kiến nghị “gọi đúng tên” condotel, officetel trong Luật Kinh doanh Bất động sản