Hội thảo tập trung đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ trước những rủi ro phát sinh từ chuyển đổi số; đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.
Phát biểu khai mạc, TS. Hoàng Xuân Châu, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội, nhấn mạnh hai vấn đề cần được xem xét đồng thời là bảo đảm an toàn và tạo cơ hội phát triển thực chất cho phụ nữ trong môi trường số.
Theo ông, khi một phụ nữ phải ngừng lên tiếng vì lo ngại bị quấy rối hoặc từ bỏ công việc do nguy cơ hình ảnh, dữ liệu cá nhân bị xâm phạm, sự thiếu an toàn đã trực tiếp hạn chế cơ hội của họ. Vì vậy, bảo vệ phụ nữ không chỉ dừng ở việc ngăn ngừa tổn hại mà còn phải giúp họ có quyền lựa chọn và điều kiện thực hiện những lựa chọn đó.
![]() |
| TS. Hoàng Xuân Châu, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội |
TS. Hoàng Xuân Châu cho rằng việc khuyến cáo người dùng thận trọng trên mạng là cần thiết nhưng chưa đủ. Khi hình ảnh cá nhân bị phát tán hoặc quyền riêng tư bị xâm phạm, người bị hại cần có đầu mối tiếp nhận yêu cầu và quy trình xử lý rõ ràng. Nếu họ phải tự tìm nơi giải quyết, tự chứng minh sự việc và chờ đợi phản hồi, gánh nặng bảo vệ đang bị đặt lên chính người bị xâm hại.
Do đó, cần làm rõ trách nhiệm của Nhà nước, các nền tảng số và những tổ chức liên quan, giúp người bị xâm hại biết tìm kiếm sự hỗ trợ ở đâu và bằng cách nào.
Bên cạnh vấn đề an toàn, TS. Hoàng Xuân Châu lưu ý rằng cơ hội phát triển của phụ nữ trong nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo không thể chỉ được đánh giá bằng số người được tiếp cận công nghệ. Việc tham gia một nhóm nghiên cứu khác với việc có tiếng nói trong các quyết định của nhóm.
![]() |
| Các đại biểu tham dự hội thảo |
Theo ông, cơ hội thực chất phải gắn với khả năng tiếp cận nguồn lực, đóng góp ý kiến và được ghi nhận thông qua kết quả công việc. Đây cũng là những yếu tố cần được tính đến khi xây dựng chính sách thúc đẩy phụ nữ tham gia khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Một vấn đề khác được đề cập là cách tổ chức công việc trong môi trường số. Công nghệ cho phép trao đổi thông tin bất cứ lúc nào, nhưng không có nghĩa mọi yêu cầu đều nên được gửi đến người nhận ngoài giờ làm việc.
Dẫn ví dụ về những email được gửi lúc 23h, ông cho rằng thông tin có thể đến đúng người nhưng chưa chắc đúng thời điểm. Từ đó, ông nhấn mạnh việc cân bằng công việc và gia đình cần được xem xét từ cách tổ chức lao động và sự chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình, thay vì chỉ khuyên phụ nữ tự sắp xếp thời gian hợp lý hơn.
Đối với Trường Đại học Luật Hà Nội, những vấn đề này cần được cụ thể hóa trong hoạt động quản trị, từ sử dụng dữ liệu cá nhân thận trọng đến thiết lập đầu mối tiếp nhận phản ánh và quy trình xử lý khi xảy ra quấy rối, xâm phạm đời tư. Các đề xuất cũng cần xác định rõ nhiệm vụ, đơn vị chịu trách nhiệm và cách đánh giá hiệu quả hỗ trợ.
Tại hội thảo, PGS.TS. Vũ Thị Lan Anh, Chi hội trưởng Chi hội Nữ trí thức Trường Đại học Luật Hà Nội, đề cập quyền được ngắt kết nối như một cơ chế có thể hỗ trợ người lao động cân bằng công việc và gia đình. Quyền này giúp bảo vệ thời gian nghỉ ngơi, giảm áp lực phải luôn sẵn sàng xử lý công việc và, nếu được quy định phù hợp, góp phần bảo vệ cơ hội nghề nghiệp.
Tuy nhiên theo bà, quyền được ngắt kết nối không mặc nhiên bảo đảm bình đẳng giới. Hiệu quả của cơ chế này phụ thuộc vào cách quy định quyền, tiêu chí xem xét trách nhiệm chăm sóc gia đình và biện pháp ngăn ngừa bất lợi đối với người lao động.
Từ kinh nghiệm lập pháp của Pháp, Tây Ban Nha, Australia và định hướng của Liên minh châu Âu, nhóm tác giả đề xuất ghi nhận nguyên tắc quyền được ngắt kết nối cho mọi người lao động, kèm các ngoại lệ có tiêu chí rõ ràng. Việc đánh giá tính hợp lý của yêu cầu liên lạc ngoài giờ cần tính đến trách nhiệm chăm sóc gia đình; đồng thời có cơ chế bảo vệ người lao động trước những bất lợi về đánh giá công việc, thù lao và thăng tiến.
Theo đó, pháp luật Việt Nam hiện chưa ghi nhận trực tiếp quyền được ngắt kết nối. Việc bảo vệ người lao động chủ yếu dựa trên các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, bình đẳng giới và bảo vệ lao động nữ trong thời kỳ thai sản. Vì vậy, nhóm tác giả kiến nghị xây dựng quy chế liên lạc ngoài giờ thông qua đối thoại, thương lượng tập thể, với sự tham gia thực chất của lao động nữ.
![]() |
| PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Yến, Trưởng Ban Nữ công, Phó Trưởng phòng Đào tạo đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội. |
PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Yến, Trưởng Ban Nữ công, Phó Trưởng phòng Đào tạo đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội, cho biết những bất lợi về kinh tế, xã hội, văn hóa, thể chế và giới có thể khiến phụ nữ gặp khó khăn trong việc thụ hưởng và thực hiện quyền con người. Trong môi trường số, các bất lợi này có thể gia tăng, đồng thời xuất hiện rủi ro mới đối với quyền riêng tư, danh dự, nhân phẩm và sự an toàn, nhất là khi trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng số phát triển.
Từ việc phân tích trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp nền tảng và các chủ thể xã hội, bà đề xuất tăng cường lồng ghép giới trong chính sách, làm rõ trách nhiệm của từng bên, cải thiện cơ chế phối hợp và nâng cao hiệu quả tiếp nhận khiếu nại, khắc phục vi phạm, giải trình.
![]() |
| TS. Trần Thị Hồng Lê, Viện Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh |
Ở góc độ bảo đảm quyền tham gia và vai trò lãnh đạo của phụ nữ trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, TS. Trần Thị Hồng Lê, Viện Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cho rằng cần củng cố cơ hội bình đẳng trong suốt quá trình nghề nghiệp. Điều này đòi hỏi hoàn thiện chính sách, bảo đảm điều kiện hỗ trợ, xây dựng quy trình lựa chọn công bằng và xác định rõ trách nhiệm thực hiện.
Bên cạnh vai trò của Nhà nước, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp, sự chia sẻ từ gia đình, cộng đồng cùng tính chủ động của phụ nữ cũng có ý nghĩa quan trọng. Kết quả cần được thể hiện ở khả năng phụ nữ đóng góp, dẫn dắt và có tiếng nói thực chất trong định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
![]() |
| PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Ngân, Chi hội phó Chi hội Nữ trí thức, Trưởng phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội. |
Trong lĩnh vực giáo dục đại học, PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Ngân, Chi hội phó Chi hội Nữ trí thức, Trưởng phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội, nhận định chuyển đổi số vừa mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, đổi mới đào tạo và quản trị, vừa làm phát sinh những rủi ro đối với quyền và sự an toàn của phụ nữ.
Bà cho rằng bảo đảm môi trường số an toàn cần trở thành một phần trong trách nhiệm quản trị của các cơ sở giáo dục đại học, bao gồm phòng ngừa, xử lý quấy rối và bạo lực trên mạng; bảo vệ dữ liệu cá nhân; nâng cao năng lực số; kiểm soát rủi ro từ việc ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo.
Một số hoạt động liên quan đã được triển khai tại Việt Nam nhưng còn phân tán, chưa đủ cơ sở để đánh giá toàn diện việc thực hiện trách nhiệm này trong toàn hệ thống. Các trường đại học cần xây dựng cách tiếp cận có hệ thống, hoàn thiện cơ chế tiếp nhận và xử lý phản ánh, tăng cường bảo vệ dữ liệu, đồng thời thu thập, theo dõi và đánh giá thông tin có tính đến yếu tố giới.
Tại phần thảo luận, các đại biểu cũng phân tích nguy cơ sử dụng trí tuệ nhân tạo và phần mềm giả mạo để xâm phạm danh dự, quyền lợi của phụ nữ trên mạng; xem xét khung pháp lý liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và trí tuệ nhân tạo. Một số ý kiến đề xuất tăng cường biện pháp phòng ngừa từ gốc, chú trọng trách nhiệm của các nhà phát triển công nghệ thay vì chỉ tập trung xử phạt người sử dụng cuối.
Phát biểu tổng kết hội thảo, PGS.TS. Vũ Thị Lan Anh, Chi hội trưởng Chi hội Nữ trí thức Trường Đại học Luật Hà Nội, cho biết chương trình đã hoàn thành các nội dung đề ra, với tám chuyên đề được trình bày và tám lượt ý kiến tại các phiên thảo luận. Nhiều đại biểu mong muốn tiếp tục trao đổi, cho thấy sự quan tâm đối với vấn đề bảo đảm an toàn và cơ hội phát triển cho phụ nữ trong kỷ nguyên số.
Theo PGS.TS. Vũ Thị Lan Anh, hội thảo có tổng cộng 31 bài tham luận đã qua phản biện và được đưa vào tài liệu hội thảo. Các bài viết cùng ý kiến trao đổi tại chương trình cung cấp góc nhìn đa chiều về pháp luật, chính sách và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn.
Ban tổ chức đề nghị các tác giả tiếp thu ý kiến tại hội thảo để chỉnh sửa, hoàn thiện tham luận. Sau đó, các bài viết sẽ được gửi đến tạp chí chuyên ngành để tiếp tục qua một vòng phản biện, hướng tới xuất bản số chuyên đề nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3/2027.
PGS.TS. Vũ Thị Lan Anh nhận định các tham luận không chỉ xem xét nhiều khía cạnh của vấn đề mà còn gợi mở hướng xây dựng chính sách. Từ những kết quả này, ban tổ chức dự kiến xây dựng báo cáo kiến nghị gửi các cơ quan chức năng, trong đó có lãnh đạo Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan.
Đây là hội thảo đầu tiên do Chi hội Nữ trí thức Trường Đại học Luật Hà Nội phối hợp với Ban Nữ công của trường tổ chức. Chương trình có sự tham gia của hơn 90 hội viên nữ trí thức cùng các giảng viên, sinh viên và đại biểu. Ban tổ chức cũng dự kiến gửi báo cáo hội thảo tới Hội Nữ trí thức Việt Nam nhằm chia sẻ kết quả và các đề xuất được tổng hợp từ chương trình.























Ra mắt Chi hội Nữ trí thức Trường Đại học Luật Hà Nội: Lan tỏa tri thức, kết nối và phát triển
Triển khai thành lập Chi hội Nữ trí thức Trường Đại học Luật Hà Nội
Nữ trí thức Khánh Hòa bàn cách phát triển sự nghiệp và giữ gìn hạnh phúc gia đình
Mỗi nữ trí thức đều đang viết nên câu chuyện đẹp của riêng mình bằng trí tuệ, bản lĩnh và trái tim giàu trách nhiệm
Gần 50 sáng chế của nữ trí thức được giới thiệu tại Techmart Tây Ninh 2026
Hội Nữ trí thức Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ, Ban Chấp hành lần thứ 10 chuẩn bị Đại hội đại biểu lần thứ IV
Cùng chuyên mục
Bảo đảm an toàn và cơ hội phát triển cho phụ nữ trong kỷ nguyên số
Đại học Ghent cấp 15 suất học bổng tiến sĩ mỗi năm cho ứng viên Global South
Dự kiến dành 0,1% GDP mỗi năm cho công tác nhân tài khoa học, công nghệ
Giải thưởng Khuê Văn Các 2026 xét chọn 18 nhà khoa học trẻ tiêu biểu
Hà Nội hỗ trợ nghiên cứu sinh giải quyết các bài toán lớn của thành phố
Khánh Hòa hướng đến các giải pháp chuyển đổi số ở cấp cơ sở hiệu quả thiết thực cho người dân