![]() |
| GS.TS. Nguyễn Mạnh Cường cùng nhóm nghiên cứu tại phòng thí nghiệm |
Công trình do GS.TS. Nguyễn Mạnh Cường cùng nhóm nghiên cứu thuộc Viện Hóa học thực hiện trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu phát triển sản phẩm có tác dụng chống viêm phổi từ một số cây thuốc chọn lọc” (mã số CT0000.07/22-24).
Nghiên cứu được đánh giá có ý nghĩa trong bối cảnh viêm phổi và các bệnh viêm đường hô hấp vẫn là thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng. Hiện nay, thuốc chống viêm giúp kiểm soát triệu chứng hiệu quả nhưng việc sử dụng kéo dài có thể gây ra nhiều tác dụng phụ, khiến nhu cầu tìm kiếm các hoạt chất tự nhiên an toàn ngày càng trở nên cấp thiết.
Theo các nhà khoa học, nhiều trường hợp viêm đường hô hấp nặng không chỉ do vi khuẩn hoặc virus gây ra mà còn liên quan đến phản ứng miễn dịch quá mức của cơ thể. Khi đó, hàng loạt cytokine tiền viêm như TNF-α, IL-6 cùng nitric oxide (NO) được sản sinh với số lượng lớn, làm tổn thương mô phổi và kéo dài tình trạng viêm. Đây cũng là cơ chế trọng tâm trong nghiên cứu các giải pháp chống viêm thế hệ mới.
Từ thực tế cứ khoảng 4 người trên thế giới thì có ít nhất 1 người từng mắc bệnh viêm đường hô hấp, nhóm nghiên cứu đã kiên trì tìm kiếm các hoạt chất kháng viêm từ dược liệu tự nhiên. Mục tiêu không chỉ nhằm tạo ra sản phẩm hỗ trợ bảo vệ sức khỏe phổi có cơ sở khoa học rõ ràng, mà còn góp phần nâng tầm giá trị nguồn dược liệu bản địa của Việt Nam, đặc biệt là cây Quýt hôi tại Thanh Hóa.
Quýt hôi, còn được gọi là quýt hoi hay quýt rừng, là cây thuốc bản địa của vùng núi Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa. Trong tiếng Thái, cây có tên “pén hoi”, còn người Mường gọi là “nghia hoi”. Hiện loài cây này được trồng và mọc tự nhiên tại nhiều xã vùng cao như xã Bá Thước, xã Pù Luông, xã Cổ Lũng, với diện tích khoảng 60–80 ha.
Theo GS.TS. Nguyễn Mạnh Cường, từ lâu đồng bào Thái và Mường đã sử dụng lá và vỏ quả Quýt hôi để trị ho hen, cảm cúm và phong thấp. Dù được sử dụng phổ biến trong y học dân gian, trước đây Quýt hôi hầu như chưa được nghiên cứu đầy đủ về tên khoa học, thành phần hóa học hay tác dụng kháng viêm. Để làm rõ giá trị của nguồn dược liệu này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát toàn diện bằng cả phương pháp so sánh hình thái thực vật và giải trình tự gen.
Kết quả cho thấy Quýt hôi có tên khoa học là Citrus × aurantium L. Dấu “×” trong tên khoa học cho biết đây là loài lai tự nhiên. Theo nhóm nghiên cứu, Quýt hôi mang đặc điểm trung gian giữa hai loài C. maxima và C. reticulata nhưng vẫn có những đặc điểm hình thái riêng biệt.
Trong quá trình phân tích tinh dầu lá Quýt hôi tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu còn phát hiện hàm lượng cao các hợp chất thơm thymol và thymol methyl ether. Đây là những thành phần được cho là có liên quan đến hoạt tính sinh học và khả năng kháng viêm của cây thuốc này.
Khi đánh giá trong phòng thí nghiệm, cao chiết từ lá Quýt hôi cho thấy khả năng ức chế mạnh sự sản sinh nitric oxide cùng các cytokine tiền viêm quan trọng như TNF-α và IL-6. Đây được xem là bằng chứng thực nghiệm đầu tiên chứng minh rõ ràng tác dụng kháng viêm của loài cây này.
![]() |
| Hình thái thực vật cây Quýt hoi |
Không chỉ Quýt hôi, rễ cây Nhó đông cũng cho thấy hoạt tính chống viêm mạnh. Lần đầu tiên, cao ethanol 95% từ rễ cây được xác nhận không gây độc tính trên động vật thực nghiệm, đồng thời có khả năng ức chế các cytokine tiền viêm.
Từ các nguồn dược liệu nghiên cứu, nhóm đã phân lập và xác định được nhiều hợp chất thiên nhiên tiềm năng như tangeretin, nobiletin, morindone, ostruthin và murrayafoline A. Các hợp chất này được ghi nhận có khả năng điều hòa các con đường tín hiệu liên quan đến phản ứng viêm.
Nhóm nghiên cứu đã phối hợp với Viện Sinh học để đánh giá tác dụng của các hợp chất tự nhiên trên mô hình mô phỏng tình trạng đồng nhiễm vi khuẩn và virus, tình trạng thường gặp ở các ca viêm phổi nặng.
Theo GS.TS. Nguyễn Mạnh Cường, mô hình thực nghiệm sử dụng LPS, thành phần đại diện cho vi khuẩn Gram âm, kết hợp với poly(I:C), đại diện cho RNA virus, giúp mô phỏng gần sát phản ứng viêm phức tạp trong cơ thể người bệnh.
Trên mô hình này, các hợp chất như morindone, ostruthin và murrayafoline A cho thấy khả năng làm giảm mạnh các chất trung gian gây viêm, đồng thời có tiềm năng kiểm soát hiện tượng “bão cytokine”, phản ứng miễn dịch quá mức có thể dẫn tới tổn thương phổi cấp và khiến bệnh diễn tiến nghiêm trọng hơn.
Từ các kết quả nghiên cứu, nhóm đã lựa chọn hai nguồn dược liệu có trữ lượng dồi dào là lá Quýt hôi và rễ Nhó đông để phát triển sản phẩm hỗ trợ viêm phổi.
Trong đó, quy trình chiết xuất ethanol 95% từ lá Quýt hôi đã được xây dựng thành công ở quy mô 15 kg mỗi mẻ. Nhóm nghiên cứu đồng thời thiết lập tiêu chuẩn cơ sở và tiến hành kiểm nghiệm theo Dược điển Việt Nam V nhằm bảo đảm tính ổn định cũng như khả năng kiểm soát chất lượng của cao chiết.
Trên cơ sở đó, viên nang HL được bào chế với thành phần chính gồm cao lá Quýt hôi, cao rễ Nhó đông, curcumin từ nghệ và menthol từ bạc hà. Theo nhóm nghiên cứu, sự kết hợp này tạo hiệu ứng hiệp đồng khi nhiều hoạt chất cùng tham gia điều hòa các cơ chế viêm khác nhau, từ giảm sản sinh cytokine, hạn chế stress oxy hóa đến hỗ trợ bảo vệ mô phổi.
Kết quả thử nghiệm cho thấy viên nang HL giúp giảm phù nề, hạn chế ứ dịch ở phổi và làm giảm các chất trung gian gây viêm trong đường hô hấp trên mô hình viêm phổi thực nghiệm. Quan sát mô bệnh học cũng ghi nhận tổn thương mô phổi được cải thiện rõ rệt.
Ngoài hiệu quả chống viêm, sản phẩm còn cho thấy độ an toàn khả quan khi chưa ghi nhận dấu hiệu độc tính trong quá trình theo dõi thực nghiệm. Ở mức liều quy đổi tương đương khoảng 4 viên mỗi ngày đối với người trưởng thành, viên nang HL vẫn duy trì tác dụng chống viêm rõ rệt.
Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đánh giá đề tài có cách tiếp cận bài bản, chiều sâu khoa học và giá trị thực tiễn cao. Kết quả nghiên cứu đã được công bố trên 4 bài báo quốc tế thuộc danh mục SCIE, gồm 1 bài Q1 và 3 bài Q3, khẳng định chất lượng học thuật cũng như khả năng hội nhập quốc tế của nhóm nghiên cứu.
Theo các nhà khoa học, thành công của đề tài cho thấy khi dược liệu bản địa được tiếp cận bằng phương pháp nghiên cứu hiện đại và hệ thống, những kinh nghiệm dân gian hoàn toàn có thể được phát triển thành các sản phẩm có tiềm năng ứng dụng thực tiễn, góp phần thúc đẩy hướng phát triển bền vững cho ngành dược liệu trong nước.



















Hơn 5.000 gen bí ẩn lần đầu được tìm thấy trong nấm, mở ra giải pháp xanh trong phòng chống sâu bệnh
Việt Nam lần đầu xây dựng cơ sở dữ liệu DNA cho sinh vật biển
Chùm ngây, từ loại thực phẩm quen thuộc đến giải pháp lọc vi nhựa tự nhiên hiệu quả
Nghiên cứu giảm nguy cơ ung thư miệng bằng kẹo cao su
Lời khuyên dành cho những gia đình đang trồng rau má
Phát hiện “kho báu y học” chưa từng biết đến trong san hô
Cùng chuyên mục
Các nhà khoa học Việt lần đầu phát triển sản phẩm hỗ trợ điều trị viêm phổi từ quýt hôi
Phát hiện dấu hiệu châu Phi đang bước vào quá trình phân tách lục địa mới
Mỹ phát triển công nghệ “pin sống” tự nạp năng lượng dưới đại dương
Phát hiện “báu vật đỏ” 11.000 carat tại thủ phủ đá quý Myanmar
Phát hiện “kho báu y học” chưa từng biết đến trong san hô
Kho báu vàng Viking lớn thứ ba tại Đan Mạch khiến giới khảo cổ sững sờ