Không ồn ào về số lượng hoạt động, Chi hội Nữ trí thức Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội tạo dấu ấn bằng một hướng đi khá riêng: tập hợp nữ trí thức trên nền tảng chuyên môn, lấy nghiên cứu khoa học làm trọng tâm và hướng những kết quả nghiên cứu vào các vấn đề thiết thực của y tế công cộng, sức khỏe cộng đồng.
Một chi hội nhỏ, một lực lượng khoa học mạnh
Đến tháng 6/2026, Chi hội có 70 hội viên, đúng bằng số hội viên khi thành lập. Cơ cấu hội viên cho thấy đây là một tập thể có nền tảng chuyên môn khá vững: 1 Giáo sư, 10 Phó Giáo sư, 21 Tiến sĩ và 47 Thạc sĩ. Trong số này có 29 đảng viên, 3 hội viên là nhà khoa học và 49 hội viên là giáo viên.
Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở những con số về học hàm, học vị, mà ở việc lực lượng nữ trí thức này đang trực tiếp đứng trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng. Với đặc thù của Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, chuyên môn của hội viên gắn với những vấn đề rộng lớn của xã hội: phòng bệnh, sức khỏe cộng đồng, môi trường bệnh viện, tiêm chủng, sức khỏe tâm thần thanh thiếu niên…
![]() |
Đây cũng chính là nét riêng nổi bật của Chi hội. Hoạt động Hội không tách rời công việc chuyên môn của hội viên mà được đặt ngay trong dòng chảy nghề nghiệp. Tri thức, vì thế, không chỉ được sử dụng trong giảng đường hay phòng nghiên cứu mà được chuyển hóa thành các nghiên cứu phục vụ hoạch định chính sách và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Từ tháng 1/2022 đến tháng 6/2026, Chi hội chưa kết nạp thêm hội viên. Nếu chỉ nhìn vào tốc độ phát triển số lượng, đây có thể là một điểm cần suy nghĩ. Nhưng ở chiều ngược lại, việc duy trì ổn định 70 hội viên trong nhiều năm cho thấy Chi hội đang tập trung vào chiều sâu, phát huy chất lượng và sức đóng góp của lực lượng hiện có.
Khi nghiên cứu khoa học trở thành “dấu ấn” của nữ trí thức
Nếu phải tìm một điểm sáng rõ nhất trong hoạt động của Chi hội, đó là năng lực nghiên cứu khoa học. Trong nhiệm kỳ, Chi hội tổ chức 1 hội nghị/hội thảo khoa học với 50 đại biểu tham dự. Quan trọng hơn, các nữ trí thức của Chi hội đang tham gia những đề tài cấp Bộ Y tế có quy mô lớn, tập trung vào những vấn đề đang đặt ra đối với hệ thống y tế và sức khỏe người dân.
![]() |
Những đề tài đã hoàn thành là:
1, Đề tài cấp Bộ “Chuẩn hóa bộ công cụ sàng lọc và đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho người bệnh trong bệnh viện” do PGS.TS Lê Thị Thanh Xuân, phó viện trưởng chủ nhiệm. Đây là đề tài cấp Bộ Y tế, được phê duyệt năm 2022 với kinh phí gần 3 tỷ đồng
2, Đề tài: “Xây dựng Bộ chỉ số đánh giá chất lượng môi trường bệnh viện”, do PGS.TS Lê Thị Thanh Xuân chủ nhiệm. Đây là đề tài cấp Bộ Y tế, được phê duyệt năm 2022, với kinh phí trên 3 tỷ đồng và đã hoàn thành. Từ môi trường bệnh viện, nghiên cứu tiếp tục mở rộng tới bài toán dự phòng bệnh trong cộng đồng. Đề tài “Nghiên cứu đề xuất mô hình triển khai dự phòng chủ động một số bệnh có thể dự phòng bằng vắc xin ở người Việt Nam từ 50 tuổi trở lên”, cũng do PGS.TS Lê Thị Thanh Xuân chủ nhiệm, là đề tài cấp Bộ Y tế được phê duyệt năm 2025, kinh phí trên 3 tỷ đồng, hiện đang được triển khai.
Trong khi đó, PGS.TS Kim Bảo Giang chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu đề xuất mô hình sàng lọc, can thiệp giảm tác hại mạng xã hội lên sức khoẻ tâm thần thanh thiếu niên Việt Nam”. Đây cũng là đề tài cấp Bộ Y tế, được phê duyệt năm 2025, kinh phí trên 3 tỷ đồng và đang thực hiện.
![]() |
Tiếp nối kết quả nghiên cứu, trong năm 2026, Viện đang đề xuất 02 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ Y tế, tiếp tục tập trung vào các vấn đề ưu tiên của y tế dự phòng, những thách thức sức khỏe mới nổi và đẩy mạnh số hóa trong đào tạo y khoa. Đây là nền tảng quan trọng để Viện mở rộng năng lực nghiên cứu, tăng cường kết nối giữa nghiên cứu khoa học và thực hành y tế, đồng thời đóng góp hiệu quả hơn vào việc xây dựng các chính sách và chương trình can thiệp dựa trên bằng chứng. Các đề tài này đang trong giai đoạn thông qua đề cương và thẩm định trước khi bàn giao thực hiện trong giai đoạn 2027-2027, bao gồm:
- Đề tài “Xây dựng nền tảng số tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ thi đánh giá chuẩn năng lực hành nghề bác sĩ Việt Nam” do PGS. TS. Đỗ Thị Thanh Toàn làm chủ nhiệm
- Đề tài “Nghiên cứu mô hình tổ chức cung cấp dịch vụ y tế tại một số vùng biển, đảo Việt Nam, phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp” do PGS. TS. Nguyễn Thị Hoài Thu làm chủ nhiệm.
![]() |
Các hướng nghiên cứu trên cho thấy khá rõ “chân dung khoa học” của Chi hội: từ chất lượng môi trường bệnh viện đến dự phòng bệnh bằng vaccine ở người từ 50 tuổi trở lên, rồi những tác động của mạng xã hội tới sức khỏe tâm thần thanh thiếu niên hay ứng dụng công nghệ số trong y khoa cho đến dịch vụ y tế cho biển đảo. Đó đều là những vấn đề không chỉ có giá trị học thuật mà còn gắn trực tiếp với đời sống xã hội và yêu cầu của y tế hiện nay.
Đặc biệt, các đề tài không dừng ở việc tạo ra một công trình nghiên cứu. Việc xây dựng bộ chỉ số, đề xuất mô hình dự phòng chủ động hay mô hình sàng lọc, can thiệp đều hướng tới khả năng ứng dụng, cung cấp cơ sở khoa học cho thực hành và chính sách y tế.
Theo báo cáo của Chi hội, 70/80 nữ cán bộ của Chi hội tích cực tham gia các đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp thành phố và cấp cơ sở. Báo cáo cũng cho biết hằng năm các thành viên Chi hội xuất bản trên 150 bài báo trong đó 50-70 bài báo quốc tế. Đây là số liệu được nêu trong báo cáo của đơn vị.
![]() |
Dù số lượng hội viên của Chi hội được báo cáo là 70, còn phần thống kê lực lượng nghiên cứu ghi 70/80 nữ cán bộ, điều đáng chú ý ở đây là mức độ tham gia nghiên cứu rất cao của đội ngũ nữ cán bộ. Nghiên cứu khoa học không phải hoạt động của một nhóm nhỏ mà đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống chuyên môn của Chi hội.
Từ giảng đường đến những vấn đề của xã hội
Một nét đáng trân trọng ở nữ trí thức ngành y là tri thức luôn đi cùng trách nhiệm xã hội. Với Chi hội Nữ trí thức Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, đặc điểm này càng rõ.
Hội viên vừa là giảng viên, vừa là nhà nghiên cứu, đồng thời tham gia các hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức và phục vụ cộng đồng. Đây là sự kết nối tự nhiên giữa ba vai trò: đào tạo nhân lực, tạo ra tri thức mới và đưa tri thức tới xã hội.
Trong nhiệm kỳ, Chi hội tổ chức 1 hoạt động tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tới nữ trí thức, hội viên. Chi hội cũng có 1 hoạt động tôn vinh, biểu dương hội viên, nữ trí thức; 3 hội viên được tặng Bằng khen của Hội Nữ trí thức Việt Nam, UBND tỉnh và sở, ngành liên quan.
Những con số này cho thấy hoạt động Hội được triển khai theo hướng gọn nhưng thực chất, trong đó giá trị cốt lõi nằm ở việc tạo môi trường để hội viên phát huy chuyên môn, được ghi nhận và tiếp tục đóng góp.
Với một tập thể gồm đông đảo giảng viên, nhà nghiên cứu, việc “phục vụ cộng đồng” cũng không nhất thiết phải bắt đầu bằng những chương trình quy mô lớn. Đôi khi, đó chính là việc đưa kiến thức khoa học đến gần hơn với người dân, đóng góp bằng chuyên môn trong các vấn đề sức khỏe, đào tạo thế hệ cán bộ y tế và tạo ra những bằng chứng khoa học phục vụ hoạch định chính sách.
Không chạy theo số lượng, chú trọng kết nối và phát triển chiều sâu
Chi hội nhận được sự quan tâm của Hội Nữ trí thức Việt Nam, Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội và lãnh đạo Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, đặc biệt trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Sự đồng hành này tạo nên một lợi thế quan trọng: hoạt động của Chi hội có thể gắn trực tiếp với môi trường học thuật và chuyên môn của nhà trường, từ đó giúp nữ trí thức có thêm điều kiện phát huy năng lực.
Tuy nhiên, trong giai đoạn tới Chi hội mong muốn Hội Nữ trí thức tạo thêm nhiều cơ hội để các chi hội giao lưu, học hỏi lẫn nhau; đồng thời tổ chức các diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm trong việc khuyến khích và tạo cơ hội cho nữ trí thức tìm kiếm nguồn tài trợ cho nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
Đề xuất này xuất phát từ chính thực tiễn của Chi hội. Khi nghiên cứu khoa học ngày càng đòi hỏi nguồn lực lớn, hợp tác liên ngành và khả năng kết nối với các đối tác trong và ngoài nước, một nữ trí thức giỏi chuyên môn vẫn cần thêm “hệ sinh thái” hỗ trợ để biến ý tưởng thành đề tài, đề tài thành kết quả và kết quả thành sản phẩm có khả năng ứng dụng.
Vì vậy, việc kết nối các chi hội không chỉ có ý nghĩa giao lưu. Nếu được tổ chức tốt, đây có thể trở thành một mạng lưới chia sẻ thông tin về nguồn tài trợ, phương pháp nghiên cứu, đối tác khoa học, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm xây dựng nhóm nghiên cứu nữ.



























Chi hội Nữ trí thức Vật lý – Hóa học – Vật liệu: Dấu ấn tri thức, đổi mới và nhân văn
Dấu ấn bền bỉ của Chi hội Nữ trí thức Bảo vệ Môi trường và Biến đổi Khí hậu
Chi hội Nữ trí thức Bệnh viện Trung ương Huế: Kết nối tri thức, lan tỏa giá trị
Chi hội Nữ trí thức Khánh Hòa kiện toàn tổ chức, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số
COSTAS và Chi hội Nữ trí thức thúc đẩy kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp, đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Chi hội Nữ trí thức tỉnh Khánh Hòa: Chủ động, sáng tạo trong tổ chức hoạt động
Cùng chuyên mục
Nữ trí thức Hà Nội đồng hành cùng sự phát triển của Thủ đô
Chi hội Nữ trí thức Viện Đào tạo YHDP-YTCC Trường Đại học Y Hà Nội: Đưa tri thức vào giải quyết những vấn đề của cộng đồng
Nữ trí thức Hải Phòng: Năng động để tạo khác biệt
Những "người giữ sức khỏe cho đất" bằng tri thức khoa học
Hội Nữ trí thức Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ và Ban Chấp hành lần thứ VII, chuẩn bị Đại hội đại biểu lần thứ IV
Kết nối trí tuệ nữ, lan tỏa giá trị khoa học vì sự phát triển bền vững khu vực Đồng bằng sông Cửu Long