![]() |
| TS. Lê Thị Thanh Loan trình bày kết quả nghiên cứu tại phiên nghiệm thu đề tài về phát triển kinh tế nông nghiệp vùng ven biển, tháng 5/2026. |
Một chính sách hỗ trợ nuôi trồng thủy sản có thể đã được ban hành, nhưng từ văn bản đến ao nuôi còn nhiều khoảng cách. Người sản xuất có thể vướng đất đai, thiếu hạ tầng thủy lợi chuyên dùng, khó tiếp cận tín dụng hoặc được tập huấn nhưng nội dung chưa đáp ứng đúng nhu cầu. Những điểm nghẽn như vậy là phần TS. Lê Thị Thanh Loan, Giảng viên chính, Phó bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách, Khoa Kinh tế và Quản lý, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đang đi sâu trong các nghiên cứu về chính sách nông nghiệp và kinh tế vùng ven biển.
Tháng 5/2026, đề tài khoa học cấp tỉnh “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp vùng ven biển tỉnh Thái Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” do TS. Lê Thị Thanh Loan làm chủ nhiệm được nghiệm thu. Đề tài được triển khai trên khu vực ven biển của tỉnh Thái Bình trước đây, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, xem xét giai đoạn 2018–2024 và hướng tới việc nhận diện những yếu tố đang chi phối khả năng phát triển nông nghiệp của vùng. Hội đồng thống nhất nghiệm thu sau khi yêu cầu nhóm tiếp tục làm rõ cơ sở dữ liệu, tính khả thi của một số giải pháp và cập nhật bối cảnh phát triển mới.
Không chỉ hỏi chính sách có gì
Kết quả của đề tài cho thấy vùng ven biển có sự chuyển dịch về cơ cấu sản xuất, trong đó nuôi trồng thủy sản, ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và các sản phẩm OCOP đã xuất hiện rõ hơn. Nhưng phía sau quá trình ấy vẫn là những vấn đề quen thuộc của kinh tế nông nghiệp: quy mô sản xuất nhỏ, liên kết chuỗi giá trị chưa bền, năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu còn hạn chế, trong khi khả năng huy động nguồn lực xã hội và thu hút doanh nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng. Nhóm nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp từ hạ tầng, cơ chế chính sách đến liên kết sản xuất, thị trường và chuyển đổi số.
Một công bố của TS. Lê Thị Thanh Loan cùng Lưu Văn Duy và Lê Thi Thu Hương, xuất bản ngày 27/5/2026 trên Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, đi sâu hơn vào một mảnh của bức tranh này: việc thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản vùng ven biển. Nghiên cứu kết hợp số liệu quản lý với khảo sát 40 cán bộ và 160 người thuộc nhóm thụ hưởng chính sách. TS. Lê Thị Thanh Loan đứng tên đầu trong nhóm ba tác giả; kết quả vì vậy phải được nhìn nhận là sản phẩm chung của nhóm, không quy toàn bộ cho một cá nhân.
![]() |
| TS. Lê Thị Thanh Loan phát biểu tham luận tại hoạt động kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam của Học viện Nông nghiệp Việt Nam năm 2024. |
Dữ liệu cho thấy các chính sách hỗ trợ đã đi cùng việc mở rộng vùng nuôi tập trung, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và tăng diện tích nuôi công nghệ cao. Tuy nhiên, mức độ tiếp cận và hiệu quả thực hiện không đồng đều. Những vấn đề được nhóm chỉ ra gồm tình trạng khó hoàn thiện căn cứ pháp lý về đất đai, hạ tầng thủy lợi dành riêng cho nuôi trồng thủy sản còn hạn chế, khả năng tiếp cận tín dụng chưa thuận lợi, chất lượng đào tạo – khuyến ngư chưa đồng đều và hoạt động xúc tiến thương mại thiếu tính bền vững.
Cách đặt vấn đề này làm dịch chuyển trọng tâm từ câu hỏi “đã có chính sách hay chưa” sang “chính sách đến được với người sử dụng bằng cách nào”. Một khoản hỗ trợ tồn tại trên giấy chưa tự động tạo ra thay đổi nếu người nuôi không đáp ứng được điều kiện tiếp cận, vùng sản xuất thiếu hệ thống cấp thoát nước phù hợp hoặc sản phẩm làm ra vẫn đứng ngoài chuỗi liên kết ổn định. Vì thế, nhóm tác giả không đề xuất một giải pháp đơn lẻ mà đặt đất đai, quy hoạch vùng nuôi, hạ tầng, tín dụng, khuyến ngư, chuỗi giá trị và giám sát chính sách trong cùng một hệ thống.
Đó cũng là điểm khiến công việc của TS. Lê Thị Thanh Loan vượt khỏi một nghiên cứu mô tả sản xuất thủy sản đơn thuần. Chuyên môn của nữ giảng viên nằm ở kinh tế nông nghiệp và chính sách; Học viện Nông nghiệp Việt Nam từng ghi nhận TS. Lê Thị Thanh Loan dẫn dắt nhóm nghiên cứu mạnh về Chính sách nông nghiệp, với hoạt động tập trung vào đề tài, công bố khoa học và tư vấn chính sách phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Trong một chia sẻ năm 2024, TS. Lê Thị Thanh Loan cũng nhấn mạnh việc các nhóm nghiên cứu cần tập trung nguồn lực cho những nhiệm vụ khoa học cốt lõi thay vì phân tán vào quá nhiều chỉ tiêu hoạt động.
Khi địa bàn thay đổi, dữ liệu cũng phải được đọc lại
Đề tài về vùng ven biển được xây dựng với phạm vi tỉnh Thái Bình trước khi địa giới hành chính thay đổi. Khi công trình được nghiệm thu năm 2026, địa bàn nghiên cứu đã được đặt trong không gian tỉnh Hưng Yên mới. Sự thay đổi này không làm mất giá trị của dữ liệu giai đoạn 2018–2024, nhưng khiến việc sử dụng kết quả cho những quyết định tiếp theo cần tính đến cơ cấu quản lý, quy hoạch và định hướng phát triển mới của địa phương. Chính hội đồng nghiệm thu cũng yêu cầu nhóm bổ sung các định hướng mới trong bối cảnh tái cơ cấu nông nghiệp và chuyển đổi số.
![]() |
| Phiên họp Hội đồng nghiệm thu đề tài nghiên cứu phát triển kinh tế nông nghiệp vùng ven biển do TS. Lê Thị Thanh Loan làm chủ nhiệm, tháng 5/2026. |
Bài toán ấy còn rộng hơn câu chuyện của một tỉnh. Phát triển vùng ven biển thường đồng thời phải tính đến sản xuất, sinh kế, hạ tầng, rủi ro khí hậu và sức chịu tải của hệ sinh thái. Nếu nghiên cứu về dịch vụ hệ sinh thái đặt câu hỏi một vùng bãi bồi đang tạo ra và đánh đổi những giá trị gì, thì hướng nghiên cứu của TS. Lê Thị Thanh Loan tiếp cận từ phía thể chế: chính sách đã được thiết kế ra sao và vì sao một phần hỗ trợ vẫn chưa chuyển thành năng lực thực tế của người sản xuất.
Ở đây cũng cần giữ giới hạn giữa kết quả nghiên cứu và tác động chính sách. Các nguồn công khai xác nhận đề tài đã được nghiệm thu, có hai bài báo khoa học và các kiến nghị được hội đồng đánh giá có giá trị tham khảo cho quá trình hoạch định. Chưa có dữ liệu cho thấy toàn bộ những giải pháp của nhóm TS. Lê Thị Thanh Loan đã được chính quyền địa phương tiếp nhận thành chính sách mới hoặc tạo ra hiệu quả kinh tế cụ thể. Nói nghiên cứu “đã thay đổi chính sách” ở thời điểm này sẽ đi xa hơn bằng chứng hiện có.
Giá trị trước mắt nằm ở chỗ những vướng mắc vốn dễ bị gom thành nhận xét chung như “chính sách chưa sát thực tế” được tách thành các vấn đề có thể quan sát và kiểm tra: ai tiếp cận được hỗ trợ, người nuôi vướng ở bước nào, hạ tầng thiếu gì, đào tạo đem lại điều gì và mắt xích nào của thị trường còn yếu. Với TS. Lê Thị Thanh Loan, vùng nuôi ven biển vì thế không chỉ là đối tượng của kinh tế nông nghiệp. Đó còn là nơi một chính sách phải chứng minh khả năng vận hành sau khi rời khỏi văn bản.


















NCS. Nguyễn Thị Thu Hà đưa giá trị hệ sinh thái vào bài toán phát triển vùng ven biển
ACIAR và Việt Nam tăng cường hợp tác nghiên cứu nông nghiệp hỗ trợ chuyển đổi xanh, phát triển bền vững
Giải pháp giám sát xâm nhập mặn thông minh phục vụ quản lý tài nguyên nước
Cùng chuyên mục
Đưa giá trị dược liệu Việt vào sản phẩm từ nguyên liệu bản địa
Mô phỏng cấu trúc tự nhiên để giảm rung cho vật liệu composite
Khi giờ Vật lý không chỉ để nghe giảng
Chính sách thủy sản qua góc nhìn của TS. Lê Thị Thanh Loan
Làm chuỗi nông sản xanh, doanh nghiệp cần đổi từ bên trong
Đưa tri thức khoa học vào sản xuất, tạo giá trị từ tài nguyên bản địa