![]() |
| TS. Trần Thị Quý Chinh đại diện nhóm nghiên cứu trình bày đề tài về chuỗi cung ứng xanh tại phiên nghiệm thu cấp đơn vị ngày 4/9/2026. Ảnh: Trường Kinh tế - Đại học Công nghiệp Hà Nội. |
Một doanh nghiệp có thể yêu cầu nhà cung cấp tuân thủ tiêu chuẩn môi trường, trao đổi dữ liệu với khách hàng hay xây dựng quy trình thu mua “xanh”. Nhưng những liên kết đó sẽ tạo ra thay đổi đến đâu nếu bên trong doanh nghiệp vẫn vận hành như cũ? Đây là câu hỏi trung tâm trong đề tài do TS. Trần Thị Quý Chinh, giảng viên Khoa Kinh doanh số, Trường Kinh tế - Đại học Công nghiệp Hà Nội, làm chủ nhiệm. Nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp chế biến nông sản, nơi việc đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc, môi trường và thị trường xuất khẩu ngày càng gắn với toàn bộ chuỗi thay vì một công đoạn riêng lẻ.
Ngày 4/9/2026, đề tài “Ảnh hưởng của tích hợp chuỗi cung ứng xanh đến hiệu quả phát triển bền vững tại các doanh nghiệp chế biến nông sản ở Việt Nam” được Hội đồng của Trường Kinh tế đánh giá và thông qua ở cấp đơn vị. TS. Trần Thị Quý Chinh là chủ nhiệm; nhóm còn có các giảng viên và sinh viên tham gia thu thập, xử lý dữ liệu. Đây chưa phải bước nghiệm thu cấp trường cuối cùng: Hội đồng yêu cầu nhóm tiếp tục hoàn thiện hồ sơ để trình cấp tiếp theo.
Nhóm khảo sát từ tháng 11/2025 đến tháng 4/2026 tại các khu vực có hoạt động sản xuất và chế biến nông sản lớn, trong đó có Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Từ 320 bảng hỏi phát ra, 311 được thu lại và 301 mẫu hợp lệ được sử dụng trong phân tích. Gần một nửa số doanh nghiệp có dưới 100 lao động; thêm 36,2% có từ 100 đến 500 lao động. Các ngành hàng gồm lương thực - ngũ cốc, rau củ quả và những nhóm nông sản chế biến khác.
Điểm đáng chú ý là khi tự đánh giá mức độ tích hợp chuỗi cung ứng xanh, 40,9% doanh nghiệp trong mẫu ở mức thấp và 39,5% ở mức trung bình. Con số này không phải phép đo trực tiếp lượng phát thải hay mức “xanh” tuyệt đối của từng doanh nghiệp; nó phản ánh câu trả lời trong bộ khảo sát mà nhóm nghiên cứu sử dụng. Dù vậy, phân bố này cho thấy phần lớn mẫu chưa nằm ở nhóm tự đánh giá có mức tích hợp cao.
Liên kết xanh chưa phải phần quyết định duy nhất
Trong nghiên cứu, “tích hợp chuỗi cung ứng xanh” được xem xét qua ba hướng: phối hợp bên trong doanh nghiệp, kết nối với nhà cung cấp và kết nối với khách hàng. Nhóm đặt những mối liên hệ này cạnh hai cơ chế khác là đổi mới xanh và chia sẻ tri thức, rồi xem chúng liên hệ thế nào với hiệu quả bền vững trên các khía cạnh kinh tế, môi trường và xã hội. Dữ liệu được xử lý bằng mô hình phương trình cấu trúc PLS-SEM.
Kết quả của mô hình cho thấy mối liên hệ trực tiếp giữa tích hợp chuỗi cung ứng xanh và hiệu quả bền vững là dương nhưng khá nhỏ, với hệ số ước tính β=0,131. Trong khi đó, mức tích hợp chuỗi xanh có liên hệ mạnh hơn với đổi mới xanh (β=0,508), còn đổi mới xanh liên hệ với hiệu quả bền vững ở mức β=0,590. Trong cấu trúc trung gian mà nhóm kiểm định, đổi mới xanh chiếm phần lớn đường truyền gián tiếp; chia sẻ tri thức cũng đóng vai trò bổ sung.
Nói bằng ngôn ngữ vận hành, doanh nghiệp không chỉ cần ký cam kết với nhà cung cấp hay yêu cầu khách hàng chia sẻ dữ liệu. Giá trị có thể xuất hiện khi những mối liên kết đó dẫn tới thay đổi cụ thể: quy trình tiết kiệm tài nguyên hơn, công nghệ sạch hơn, cách bảo quản hoặc logistics ít lãng phí hơn, và dữ liệu được chia sẻ đủ để các mắt xích cùng điều chỉnh. Đây cũng là lý do nhóm nghiên cứu cho rằng đổi mới xanh và chia sẻ tri thức cần được nhìn như năng lực bên trong doanh nghiệp chứ không chỉ là hoạt động phối hợp bên ngoài.
![]() |
| Nhóm nghiên cứu trình bày thiết kế khảo sát tại phiên nghiệm thu đề tài về chuỗi cung ứng xanh trong doanh nghiệp chế biến nông sản. Ảnh: Trường Kinh tế - HaUI. |
Một chỉ số dễ bị hiểu sai là con số 75% mà đề tài nêu cho tổng hiệu ứng trung gian. Con số này thuộc cấu trúc thống kê của mô hình, phản ánh tỷ trọng của các đường truyền gián tiếp thông qua đổi mới xanh và chia sẻ tri thức trong tổng hiệu ứng được ước tính. Nó không có nghĩa 75% hiệu quả bền vững của doanh nghiệp ngoài thực tế là do hai yếu tố này tạo ra. Toàn mô hình giải thích được khoảng 58,3% biến thiên của biến hiệu quả bền vững trong bộ dữ liệu nghiên cứu.
Mẫu nghiên cứu gồm những doanh nghiệp nào?
- 301 bảng hỏi hợp lệ.
- 47,2% doanh nghiệp có dưới 100 lao động.
- 36,2% có từ 100 đến 500 lao động.
- 39,9% thuộc nhóm chế biến lương thực, ngũ cốc.
- 30,2% thuộc nhóm rau, củ, quả.
- 29,9% thuộc các nhóm nông sản chế biến khác.
- Thời gian khảo sát: 11/2025–4/2026.
Kết quả thống kê chưa phải bằng chứng nhân quả
Đây cũng là giới hạn quan trọng nhất của đề tài. Dữ liệu được thu trong một giai đoạn, chủ yếu từ bảng hỏi của doanh nghiệp, chứ không phải một thí nghiệm trong đó nhóm nghiên cứu chủ động thay đổi mức độ tích hợp chuỗi xanh rồi theo dõi kết quả trong nhiều năm. Vì vậy, các hệ số trong mô hình cho thấy những mối liên hệ phù hợp với giả thuyết nghiên cứu; chúng chưa đủ để khẳng định một thay đổi ở chuỗi cung ứng chắc chắn gây ra mức cải thiện tương ứng về kinh tế, môi trường hay xã hội.
Các chỉ tiêu môi trường trong nghiên cứu cũng không phải dữ liệu đo trực tiếp tại nhà máy như lượng điện tiêu thụ, nước sử dụng, khí nhà kính, tỷ lệ phế phẩm hay mức tái chế. Nếu nghiên cứu tiếp theo kết hợp dữ liệu quản trị với các chỉ số vận hành đã được kiểm chứng độc lập, khả năng đánh giá hiệu quả của từng thực hành xanh sẽ chắc hơn.
Hội đồng nghiệm thu cũng đề nghị nhóm phân tích sâu hơn đặc thù mùa vụ giữa các nhóm nông sản, làm rõ các rào cản kỹ thuật của thị trường EU và Hoa Kỳ và hoàn thiện phần hàm ý chính sách. Những góp ý này đáng chú ý vì chuỗi rau quả tươi, ngũ cốc hay sản phẩm chế biến sâu có yêu cầu bảo quản, vòng đời và mức tiêu hao tài nguyên rất khác nhau; một kết luận tổng hợp cho ngành nông sản không nhất thiết có cùng độ phù hợp với tất cả nhóm hàng.
![]() |
| Các thành viên tham dự phiên đánh giá đề tài ngày 4/9/2026. Nghiên cứu được thông qua ở cấp đơn vị và tiếp tục hoàn thiện trước bước nghiệm thu tiếp theo. Ảnh: Trường Kinh tế - HaUI. |
Đề tài năm 2026 cũng nối với hướng nghiên cứu mà TS. Trần Thị Quý Chinh đang theo đuổi về logistics, chuỗi cung ứng và quản trị xanh. Khoa Kinh doanh số xác nhận bà là giảng viên điều phối chương trình Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng. Tháng 5/2026, bà là đồng tác giả và tác giả liên hệ của một nghiên cứu đăng trên Discover Sustainability về cách trách nhiệm xã hội xanh và lợi thế cạnh tranh xanh liên hệ với hiệu quả bền vững của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam; trong công trình này bà tham gia thiết kế mô hình, khảo sát, phân tích dữ liệu và viết phần phương pháp, kết quả, thảo luận.
Với nghiên cứu vừa được nghiệm thu cấp đơn vị, đóng góp thực tế chưa phải một “công thức xanh” có thể áp ngay cho mọi doanh nghiệp. Phần đáng chú ý hơn là việc tách được hai lớp của vấn đề: liên kết bên ngoài chuỗi và năng lực thay đổi bên trong doanh nghiệp. Khi phát triển bền vững trở thành yêu cầu ngày càng rõ đối với doanh nghiệp Việt, nghiên cứu của TS. Trần Thị Quý Chinh đặt thêm một câu hỏi thực dụng: sau những cam kết “xanh”, doanh nghiệp đã thay đổi được gì trong công nghệ, quy trình và cách chia sẻ tri thức giữa các mắt xích?



















Khi phát triển bền vững trở thành 'luật chơi', doanh nghiệp Việt buộc phải chuyển mình
Logistics xanh: Hành trình còn nhiều thách thức
Đồng Nai: Tăng tốc xây dựng chuỗi giá trị bưởi bằng liên kết 4 nhà, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo
Hợp tác ba bên thúc đẩy ngành cà phê Việt Nam phát triển xanh và hội nhập quốc tế
Cùng chuyên mục
Làm chuỗi nông sản xanh, doanh nghiệp cần đổi từ bên trong
Đưa tri thức khoa học vào sản xuất, tạo giá trị từ tài nguyên bản địa
Đưa vỏ cà phê từ phòng thí nghiệm đến doanh nghiệp
Tìm đúng lúc cần phòng trừ để ruộng hành bớt lần phun thuốc
Giảm sâu bệnh cho vải Đắk Lắk bằng quy trình theo hướng hữu cơ
PGS.TS Vũ Thị Thu thử cảm biến trên tế bào ung thư phổi