![]() |
| NCS. Nguyễn Thị Thu Hà trình bày nghiên cứu về dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước ven biển Kim Đông – Bình Minh tại buổi bảo vệ luận án ngày 13/4/2026. Ảnh: Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững. |
Một vùng bãi bồi có thể đem lại sản lượng thủy sản, tạo thêm đất sản xuất và mở ra cơ hội du lịch. Nhưng cùng lúc, nơi đó còn giữ phù sa, chắn sóng, lưu trữ carbon và cung cấp môi trường sống cho nhiều loài.
Phần lợi ích đầu tiên thường dễ nhìn thấy và có thể tính thành doanh thu. Những giá trị còn lại ít xuất hiện trong báo cáo kinh tế, chỉ được nhận ra rõ hơn khi rừng ngập mặn thu hẹp, bờ biển trở nên mong manh hoặc nguồn lợi tự nhiên suy giảm.
NCS. Nguyễn Thị Thu Hà, nghiên cứu viên Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững, đã chọn cách đưa cả hai mặt vào cùng một phép tính.
Ngày 13/4/2026, chị bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành Khoa học môi trường tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Công trình nghiên cứu các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước ven biển Kim Đông – Bình Minh, tỉnh Ninh Bình và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý. Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
Vùng đất không ngừng tiến ra biển
Khu vực Kim Đông – Bình Minh nằm trên dải bờ biển dài khoảng 18km, từ cửa sông Đáy tới cửa sông Càn. Trầm tích do sông mang tới tiếp tục bồi đắp, tạo thành vùng đất trẻ rộng khoảng 6–7km vào lúc triều kiệt.
Hoạt động khai phá khu vực này có lịch sử từ thời Doanh Điền sứ Nguyễn Công Trứ. Đến nay, bốn tuyến đê biển từ Bình Minh 1 đến Bình Minh 4 lần lượt hình thành. Tuyến đê Bình Minh 4 hoàn thành năm 2024 tiếp tục mở thêm không gian cho các hoạt động kinh tế ven biển.
Năm 2023, sản lượng thủy sản khai thác tự nhiên trong khu vực đạt khoảng 4.964 tấn; sản lượng nuôi trồng đạt 28.283 tấn. Cồn Nổi và rừng ngập mặn còn tạo điều kiện phát triển du lịch sinh thái.
Nhìn từ các con số sản xuất, đây là một vùng đất giàu tiềm năng. Nhưng nghiên cứu của NCS. Nguyễn Thị Thu Hà cho thấy quá trình mở rộng hoạt động kinh tế đang diễn ra cùng với những thay đổi lớn về cấu trúc hệ sinh thái.
Trong giai đoạn 2000–2023, dân số khu vực tăng 1,92 lần và diện tích nuôi trồng thủy sản tăng 8,2 lần. Cùng thời gian đó, diện tích rừng ngập mặn giảm 196,5ha, còn vùng gian triều giảm 281,69ha.
Các số liệu trên cho thấy sự biến động diễn ra đồng thời, chưa đủ để quy toàn bộ diện tích rừng và vùng gian triều bị thu hẹp cho riêng hoạt động nuôi thủy sản. Tuy nhiên, chúng đặt ra câu hỏi mà quy hoạch ven biển không thể bỏ qua: mỗi hecta đất được chuyển sang mục đích tạo doanh thu trực tiếp sẽ làm thay đổi những dịch vụ sinh thái nào?
Một hecta rừng không chỉ có giá trị của cây
“Dịch vụ hệ sinh thái” là những lợi ích con người nhận được từ tự nhiên. Với vùng đất ngập nước ven biển, lợi ích đó không chỉ là tôm, cá, ngao hoặc diện tích có thể khai thác.
Rừng ngập mặn làm giảm năng lượng sóng, giữ trầm tích và góp phần bảo vệ đê biển. Vùng gian triều là nơi kiếm ăn, sinh sản và cư trú của nhiều loài. Hệ sinh thái còn lưu trữ carbon, điều hòa môi trường và tạo cảnh quan cho hoạt động du lịch.
Một số lợi ích có thể được đưa về giá trị tiền tệ. Số khác cần đánh giá bằng diện tích, sản lượng, mức độ bảo vệ, khả năng duy trì sinh cảnh hoặc chi phí phải bỏ ra nếu chức năng tự nhiên bị mất.
Vì vậy, lượng giá hệ sinh thái không đồng nghĩa với “định giá để bán” một cánh rừng. Mục tiêu là làm cho những lợi ích vốn bị bỏ ngoài bảng cân đối trở nên hữu hình hơn khi cơ quan quản lý so sánh các phương án sử dụng đất.
Cách tiếp cận của NCS. Nguyễn Thị Thu Hà kết hợp nhận diện dịch vụ hệ sinh thái, đánh giá biến động không gian trong 23 năm, phân tích hoạt động khai thác và chỉ ra những áp lực từ phát triển kinh tế – xã hội cũng như biến đổi khí hậu.
Điểm đáng chú ý không nằm ở một con số tiền duy nhất. Giá trị của nghiên cứu là đặt sản lượng thủy sản, sinh kế, du lịch, rừng phòng hộ và khả năng duy trì hệ sinh thái vào cùng một khung ra quyết định.
Trước đó, Phụ Nữ Mới từng ghi nhận sinh kế của những phụ nữ khai thác sản vật trong rừng ngập mặn Kim Sơn. Câu chuyện ấy cho thấy rừng không chỉ cung cấp chức năng sinh thái mà còn tạo nguồn thu trực tiếp cho người dân địa phương.
Phát triển không thể chỉ chọn một phía
Số liệu diện tích nuôi thủy sản tăng 8,2 lần có thể được nhìn như một dấu hiệu mở rộng sản xuất. Nhưng nếu chỉ tính sản lượng thu được mà không tính chất lượng nước, chi phí xử lý ô nhiễm, suy giảm nguồn lợi tự nhiên và chức năng chắn sóng, hiệu quả kinh tế có thể bị đánh giá cao hơn thực tế.
Ở chiều ngược lại, bảo tồn cũng không thể được hiểu là đóng toàn bộ không gian ven biển và loại bỏ nhu cầu sinh kế. Người dân đã khai thác, nuôi trồng và sinh sống tại đây qua nhiều thế hệ. Một phương án bảo vệ không tính đến thu nhập và khả năng tham gia của cộng đồng khó duy trì trong dài hạn.
Bài toán thực chất không phải lựa chọn tuyệt đối giữa nuôi thủy sản và rừng ngập mặn. Điều cần xác định là khu vực nào có thể khai thác, khu vực nào cần phục hồi, mức độ nuôi trồng nào còn nằm trong sức chịu tải và những sinh kế nào có thể vận hành mà không làm suy yếu nền sinh thái tạo ra chúng.
![]() |
| NCS. Nguyễn Thị Thu Hà, đứng giữa cầm hoa, cùng Hội đồng đánh giá luận án và các đại biểu ngày 13/4/2026. Ảnh: Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững. |
Theo thông tin công khai về luận án, NCS. Nguyễn Thị Thu Hà đã đề xuất hệ thống giải pháp sử dụng hợp lý các dịch vụ hệ sinh thái tại Kim Đông – Bình Minh. Tuy nhiên, bản giới thiệu kết quả chưa công bố chi tiết giá trị lượng hóa của từng dịch vụ và chưa cho biết phương án nào đã được chính quyền địa phương tiếp nhận.
Bởi vậy, chưa thể khẳng định nghiên cứu đã trực tiếp làm thay đổi quy hoạch hoặc hoạt động nuôi trồng tại địa phương. Giá trị trước mắt của công trình nằm ở việc bổ sung cơ sở dữ liệu và một cách so sánh đa mục tiêu cho quá trình ra quyết định.
Bản đồ cần đi cùng cơ chế thực hiện
Để kết quả lượng giá được sử dụng trong quản lý, dữ liệu cần được cập nhật sau năm 2023 và đặt trong bối cảnh tuyến đê Bình Minh 4 đã hoàn thành. Những thay đổi về dòng chảy, bồi tụ, sinh cảnh và hoạt động kinh tế phía trong – ngoài đê cần tiếp tục được theo dõi.
Một bản đồ phân vùng tốt cũng chưa đủ nếu thiếu quy định về sức chịu tải, giám sát chất lượng nước, xử lý nước thải nuôi trồng, phục hồi rừng và trách nhiệm của các chủ thể khai thác.
Người dân địa phương cần tham gia vào quá trình xác định giá trị. Với họ, rừng ngập mặn có thể đồng thời là nơi khai thác ngao, bãi giống tự nhiên, hàng rào chắn gió và phần không gian gắn với đời sống cộng đồng. Những giá trị này khó được phản ánh đầy đủ nếu nghiên cứu chỉ sử dụng dữ liệu từ bên ngoài.
Trong bức tranh rộng hơn, công trình của NCS. Nguyễn Thị Thu Hà cùng hướng tới mục tiêu sử dụng tri thức để nhận diện các chi phí thường bị che khuất của phát triển. Phụ Nữ Mới cũng từng giới thiệu nghiên cứu của PGS.TS Mai Hương về sức ép ô nhiễm vi nhựa lên hệ sinh thái.
NCS. Nguyễn Thị Thu Hà trở thành nghiên cứu sinh thứ 100 của Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Dấu mốc này có ý nghĩa về đào tạo, nhưng giá trị lâu dài của công trình vẫn phụ thuộc vào việc dữ liệu có được chuyển thành lựa chọn quản lý cụ thể hay không.
Bãi bồi Kim Đông – Bình Minh vẫn đang thay đổi theo từng mùa nước và từng quyết định sử dụng đất. Nghiên cứu của chị nhắc rằng phần “được” có thể xuất hiện ngay trong sản lượng của năm nay, còn phần “mất” đôi khi chỉ lộ rõ sau nhiều năm. Muốn phát triển bền vững, cả hai đều phải được tính từ đầu.



















Những người phụ nữ ngâm mình dưới bùn lầy, săn sản vật ở rừng ngập mặn Ninh Bình
PGS.TS. Mai Hương: Nghiên cứu về ô nhiễm vi nhựa là một cuộc chiến không ngừng nghỉ
8 năm thực hiện Chiến lược 2020: Đa dạng sinh học vẫn giảm ở 3 cấp độ
Cùng chuyên mục
NCS. Nguyễn Thị Thu Hà đưa giá trị hệ sinh thái vào bài toán phát triển vùng ven biển
Tổng Giám đốc Mã Thanh Loan: Chính sách mở đường, năng lực quyết định phụ nữ khởi nghiệp đi xa đến đâu
PGS.TS Trịnh Thị Hà khảo sát lời nói của trẻ tự kỷ 6–10 tuổi
NSND Trịnh Kim Chi: Phụ nữ đừng tự tạo áp lực để trở nên hoàn hảo
Nữ lãnh đạo kiến tạo giá trị mới cho nông nghiệp Đồng Nai
Tiến sĩ Phan Danh Na: Đi từ ý chí đến tri thức bằng lòng biết ơn