![]() |
| TS. Bùi Thị Hà tại lễ trao giải “Sứ giả truyền thông” của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tháng 6/2026. |
Nước vốn là một phần quen thuộc của lịch sử nông nghiệp Việt Nam, nhưng khi đặt hệ thống tưới, tiêu, đê điều và những công trình dẫn nước vào một giai đoạn cụ thể, câu chuyện không còn chỉ thuộc về kỹ thuật thủy lợi. Đằng sau mỗi công trình còn là chính sách đầu tư, cách tổ chức lao động, mục tiêu kinh tế, phương thức quản lý và những thay đổi trong đời sống của cư dân.
Đó là cách TS. Bùi Thị Hà, nghiên cứu viên chính Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cùng các cộng sự tiếp cận trong chuyên khảo Thủy nông Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1945. Cuốn sách do chị chủ biên được xuất bản năm 2025, sau một quá trình nghiên cứu bắt đầu từ đề tài cấp Bộ về lịch sử thủy nông Việt Nam thời cận đại.
Điểm đáng chú ý ở công trình không nằm ở việc tập hợp thêm một danh mục các hồ, đập hay kênh tưới từng được xây dựng. Nhóm nghiên cứu tìm cách đặt những công trình ấy trở lại bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội của từng giai đoạn để xem vì sao chúng xuất hiện, ai tổ chức xây dựng, chúng phục vụ những mục tiêu nào và để lại tác động gì.
Từ tài liệu lưu trữ đến những dòng kênh ngoài thực địa
![]() |
| TS. Bùi Thị Hà tham vấn kỹ sư thủy lợi cao cấp Phan Khánh tại TP.HCM trong quá trình nghiên cứu về thủy nông. Ảnh: Trần Hồng Quang và tác giả. |
TS. Bùi Thị Hà và các cộng sự khai thác nhiều tài liệu lưu trữ bằng tiếng Pháp, đồng thời tiến hành khảo sát thực địa và tham vấn những người có kinh nghiệm chuyên môn về thủy lợi. Cách làm này giúp công trình không chỉ dựa vào các văn bản hành chính của thời thuộc địa mà còn đối chiếu chúng với dấu tích, không gian và kiến thức kỹ thuật còn có thể nhận diện.
Khoảng thời gian từ năm 1858 đến năm 1945 được chia thành nhiều giai đoạn để theo dõi những thay đổi trong chính sách thủy nông, nguồn vốn, bộ máy quản lý và quá trình xây dựng các hệ thống tưới tiêu. Trong thời kỳ thuộc địa, chính quyền Pháp từng bước đầu tư vào một số công trình thủy nông nhằm phục vụ khai thác kinh tế, đặc biệt tại những vùng sản xuất nông nghiệp.
Nhưng lịch sử của những công trình ấy không chỉ có một chiều. Việc mở rộng tưới tiêu có thể tạo điều kiện cải tạo đất, tăng diện tích canh tác, phát triển sản xuất và vận tải đường thủy. Cùng lúc, cách huy động nhân lực, đầu tư và vận hành cũng bộc lộ những hạn chế, trong đó có lao dịch, bất cập về hạ tầng và hiệu quả không đồng đều giữa các công trình.
Những lớp thông tin như vậy giúp câu chuyện về thủy nông vượt khỏi phạm vi lịch sử kỹ thuật. Một con kênh hay một hệ thống tưới có thể trở thành đầu mối để đọc những thay đổi trong tổ chức sản xuất, quản lý nông thôn, quan hệ giữa chính quyền với cư dân và cách nền kinh tế thuộc địa khai thác tài nguyên.
TS. Bùi Thị Hà từng đi sâu vào một số trường hợp cụ thể như hệ thống thủy nông Kép ở Bắc Giang hay kênh Thoại Hà qua nguồn tư liệu tiếng Pháp. Những nghiên cứu nhỏ hơn này góp phần tạo thành nền tư liệu trước khi công trình lớn về thủy nông Việt Nam được hoàn thiện.
Một hướng nghiên cứu không dừng ở thủy nông
Điều khiến trường hợp TS. Bùi Thị Hà phù hợp với tiểu mục Nữ trí thức Việt không chỉ là một cuốn chuyên khảo. Nhìn lại các công trình gần đây của chị có thể thấy một đường nghiên cứu tập trung vào những thiết chế và hệ thống được hình thành hoặc biến đổi mạnh trong thời cận đại.
Trước khi công trình về thủy nông ra mắt, TS. Bùi Thị Hà đã xuất bản Y tế phương Tây ở Bắc Kỳ (1873-1945) năm 2024. Cuốn sách phát triển từ hướng nghiên cứu mà chị theo đuổi trong luận án tiến sĩ và khai thác các nguồn tài liệu tại Việt Nam cũng như Pháp để tìm hiểu quá trình y học phương Tây được đưa vào Bắc Kỳ. Công trình xem xét sự hình thành của cơ quan quản lý y tế, cơ sở đào tạo, bệnh viện, hoạt động phòng dịch và nghiên cứu y học trong bối cảnh thuộc địa.
Ở hai chủ đề tưởng như khá xa nhau, một bên là y tế, một bên là thủy nông, vẫn có một điểm chung về phương pháp. TS. Bùi Thị Hà không chỉ hỏi một thiết chế đã xuất hiện khi nào mà đặt nó trong quá trình hình thành, vận hành và tác động đến xã hội.
Các nghiên cứu sau đó tiếp tục mở rộng địa bàn. Một bài công bố năm 2025 của chị khảo sát y tế phương Tây tại Long Xuyên đầu thế kỷ XX, cho thấy hướng nghiên cứu về lịch sử y tế chưa dừng lại ở Bắc Kỳ. Các công trình khác cũng hướng tới hệ thống y tế ở Trung Kỳ, Nam Kỳ và lịch sử của các cơ sở Pasteur tại Việt Nam.
Cách mở rộng vấn đề theo địa bàn như vậy cho phép so sánh những khác biệt trong chính sách, cơ sở vật chất và mức độ tiếp cận y tế giữa các vùng. Nó cũng tránh việc lấy một địa bàn làm đại diện cho toàn bộ quá trình hình thành y tế hiện đại ở Việt Nam.
![]() |
| Chuyên khảo Thủy nông Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1945 do TS. Bùi Thị Hà chủ biên, xuất bản năm 2025. Ảnh: Nhà xuất bản Khoa học xã hội. |
Khi nghiên cứu lịch sử trở lại với câu hỏi của hiện tại
Trong chuyên khảo về thủy nông, TS. Bùi Thị Hà và các cộng sự dành phần cuối để nhìn lại những kinh nghiệm có thể rút ra từ lịch sử. Điều này không có nghĩa một giải pháp của hơn một thế kỷ trước có thể được áp dụng trực tiếp cho hiện tại. Điều kiện khí hậu, dân số, công nghệ, mô hình sản xuất và hệ thống quản lý đã thay đổi rất nhiều.
Giá trị của việc nhìn lại nằm ở một tầng khác. Lịch sử cho thấy một công trình thủy lợi không vận hành độc lập với cơ chế đầu tư, bộ máy quản lý, năng lực kỹ thuật hay cộng đồng sử dụng nước. Một quyết định về nguồn nước thường tạo ra ảnh hưởng lâu dài hơn thời gian xây dựng của chính công trình đó.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hạn hán, ngập lụt và cạnh tranh sử dụng nước ngày càng đặt ra nhiều câu hỏi mới, những nghiên cứu lịch sử có thể cung cấp thêm dữ liệu để nhận diện các mô hình từng được thử nghiệm, những điểm yếu đã xuất hiện và hệ quả của các lựa chọn quản lý trước đây. Tuy nhiên, đó là nguồn tham khảo lịch sử chứ không phải bằng chứng để khẳng định một mô hình quá khứ phù hợp trực tiếp với chính sách hiện nay.
Đến năm 2026, công việc của TS. Bùi Thị Hà còn mở sang một hướng khác là truyền thông khoa học. Tháng 6, chị được Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trao giải Sứ giả truyền thông trong cuộc thi về kết nối tri thức và hệ sinh thái truyền thông số. Đây không phải căn cứ để đánh giá chất lượng học thuật của các công trình, nhưng phản ánh một phần hoạt động đưa nghiên cứu khoa học xã hội đến gần hơn với công chúng.
Từ lịch sử y tế đến lịch sử thủy nông, TS. Bùi Thị Hà đang đi theo một con đường nghiên cứu ít ồn ào nhưng có tính tích lũy rõ. Tư liệu lưu trữ, khảo sát thực địa và những câu hỏi về cách một hệ thống vận hành trong xã hội được nối lại thành những công trình có phạm vi ngày càng rộng hơn. Qua đó, lịch sử không chỉ còn là chuỗi sự kiện đã xảy ra mà trở thành một cách đọc những thiết chế vẫn tiếp tục ảnh hưởng tới đời sống hôm nay.




















Mộc bản Hà Nội từng đưa tri thức đến gần người Việt hơn
Học lịch sử bằng AR, board game và AI: Cách sinh viên một trường đại học kể chuyện quá khứ
Hãy xem tri thức là món quà lớn nhất dành cho phụ nữ: Từ trao quyền tri thức đến phát triển bền vững trong kỷ nguyên số
Cùng chuyên mục
Những công trình thủy nông kể gì về Việt Nam thời cận đại
Phát triển tiếng Việt cho trẻ lớp ghép từ hoạt động chơi
Nữ bác sĩ Việt Nam đầu tiên làm đại sứ Quỹ Oncidium về điều trị ung thư
Khi đào tạo công tác xã hội cần gần hơn với thực tế
Một cách mở rộng việc đọc và dạy văn học
Giữa dòng thông tin số, người trẻ cần gì để không quá tải