![]() |
| TS. Nguyễn Thị Kim Dung trình bày tham luận tại tọa đàm “Văn hóa đọc trong kỷ nguyên số tại các cơ sở giáo dục đại học”, tháng 4/2026. Nguồn: Học viện Hành chính và Quản trị công. |
Một học sinh có thể xem hết video này đến video khác mà gần như không có khoảng nghỉ. Một sinh viên có thể chuyển từ tài liệu gốc sang bản tóm tắt của AI chỉ trong vài giây. Công nghệ giúp việc tiếp cận nội dung thuận tiện hơn, nhưng lượng thông tin tăng lên không đồng nghĩa người dùng xử lý chúng tốt hơn. Đây cũng là vùng nghiên cứu mà TS. Nguyễn Thị Kim Dung, Phó Trưởng Khoa Quản trị thông tin, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đang theo đuổi qua các công trình về hành vi thông tin, năng lực số và đạo đức trí tuệ nhân tạo.
Một công trình được công bố trong VNU Journal of Social Sciences and Humanities năm 2026 đi thẳng vào hành vi khá quen thuộc với người trẻ: binge-watching, tức xem nội dung đa phương tiện liên tục trong một khoảng thời gian ngắn. Nhóm tác giả gồm TS. Nguyễn Thị Kim Dung và năm sinh viên khảo sát 151 học sinh tại một trường THPT công lập ở Hà Nội để xem hành vi này liên hệ thế nào với cảm nhận quá tải thông tin. Đây là nghiên cứu cắt ngang nên kết quả phản ánh mối liên hệ tại thời điểm khảo sát, không chứng minh rằng xem liên tục trực tiếp gây ra quá tải.
Kết quả đáng chú ý nằm ở chỗ thời lượng xem không phải yếu tố duy nhất cần nhìn tới. Trong mô hình phân tích của nhóm, yếu tố “anticipation” - trạng thái mong đợi, trông chờ vào nội dung tiếp theo - có quan hệ dương mạnh nhất với quá tải thông tin. “Craving” lại có hệ số âm có ý nghĩa thống kê, trong khi hai thành phần “dependency” và “avoidance” không đạt ý nghĩa thống kê. Những kết quả không đồng nhất ấy khiến nghiên cứu khó bị rút gọn thành một thông điệp đơn giản kiểu “xem càng nhiều càng quá tải”; động cơ, kỳ vọng và khả năng tự điều chỉnh của người xem cũng phải được tính đến.
Từ xem liên tục đến cách đọc có AI
Mạch nghiên cứu này mở rộng sang một vấn đề khác đang diễn ra ngay trong trường đại học. Tại tọa đàm về văn hóa đọc trong kỷ nguyên số ngày 21/4/2026, TS. Nguyễn Thị Kim Dung phân tích việc AI tạo sinh đang làm thay đổi cách sinh viên tiếp cận tri thức. Người học không chỉ đọc văn bản mà có thể đưa tài liệu vào công cụ để tóm tắt, diễn giải hoặc hỗ trợ xử lý thông tin. Trong tham luận, nữ giảng viên chia các yếu tố tác động thành bốn nhóm gồm năng lực và động cơ cá nhân, sự thuận tiện của công nghệ, vai trò của AI trong xử lý thông tin và áp lực từ môi trường học thuật.
![]() |
| Nhóm sinh viên Khoa Quản trị thông tin với nghiên cứu về hành vi xem liên tục, quá tải thông tin và quá tải xã hội của học sinh THPT tại Hà Nội, đề tài do TS. Nguyễn Thị Kim Dung hướng dẫn, đạt giải Nhất nghiên cứu khoa học cấp Trường tại SSHWeek 2026. Nguồn: Khoa Quản trị thông tin, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN. |
Cách đặt vấn đề của TS. Nguyễn Thị Kim Dung không dẫn tới việc phủ nhận công nghệ. Những đề xuất tại tọa đàm tập trung vào khả năng đọc sâu, phản biện nội dung do AI tạo ra, đối chiếu nhiều nguồn và đưa năng lực AI vào chuẩn đầu ra phù hợp. Với thư viện đại học, bà đề cập vai trò đào tạo kỹ năng đọc trong môi trường số, khai thác cơ sở dữ liệu chuyên sâu và sử dụng AI có đạo đức. Công nghệ vì thế được đặt trong quá trình xử lý tri thức, thay vì được xem như một con đường tắt để nhận câu trả lời.
Góc nhìn về đạo đức AI cũng xuất hiện trong một nghiên cứu khác của TS. Nguyễn Thị Kim Dung công bố tháng 2/2026. Khảo sát 68 cán bộ tại một số thư viện đại học ở Hà Nội cho thấy mức nhận thức tương đối cao về các nguyên tắc đạo đức AI, nổi bật ở trách nhiệm giải trình và quyền riêng tư dữ liệu. Tuy vậy, kết quả có khác biệt theo vị trí công tác, trình độ chuyên môn và mức độ tiếp xúc với AI. Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi Likert 5 mức và phân tích thống kê mô tả, so sánh nhóm; vì phạm vi mẫu giới hạn ở Hà Nội, không nên coi kết quả này là đại diện cho toàn bộ đội ngũ thư viện đại học Việt Nam.
Hai hướng nghiên cứu tưởng như khác nhau - một bên là học sinh xem nội dung liên tục, một bên là cán bộ thư viện đối diện các vấn đề đạo đức của AI - gặp nhau ở câu hỏi về năng lực của con người trước môi trường thông tin mới. Không chỉ cần có công cụ hay quyền truy cập, người dùng còn phải biết chọn lọc, kiểm chứng, tự điều chỉnh và hiểu những rủi ro xuất hiện trong quá trình sử dụng thông tin.
Đưa câu hỏi nghiên cứu trở lại lớp học
Điểm đáng chú ý trong công việc hiện nay của TS. Nguyễn Thị Kim Dung là nghiên cứu không tách khỏi hoạt động đào tạo. Tại Tuần lễ Khoa học Xã hội và Nhân văn 2026, nhóm sinh viên do bà hướng dẫn với đề tài về hành vi xem liên tục, quá tải thông tin và quá tải xã hội của học sinh THPT tại Hà Nội được trao giải Nhất nghiên cứu khoa học cấp trường. Một nhóm khác do bà hướng dẫn nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lực AI và nhận thức về bảo vệ quyền riêng tư của sinh viên, nhận giải Nhì.
![]() |
| Nhóm sinh viên nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lực AI và nhận thức về bảo vệ quyền riêng tư, do TS. Nguyễn Thị Kim Dung hướng dẫn, nhận giải Nhì tại SSHWeek 2026. Nguồn: Khoa Quản trị thông tin, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN. |
Bối cảnh giáo dục cũng khiến những câu hỏi này có tính thời sự rõ hơn. Từ năm học 2026–2027, nội dung giáo dục AI được triển khai đại trà ở trường phổ thông, trong đó học sinh được yêu cầu rèn tư duy phản biện, kiểm chứng thông tin và sử dụng AI an toàn, có đạo đức, có trách nhiệm. Riêng Hà Nội cũng đã có kế hoạch đưa nội dung giáo dục AI tới các cơ sở giáo dục từ tiểu học đến THPT trong năm học này.
Điều này làm thay đổi trọng tâm của câu chuyện. Khi AI và các nền tảng số đã bước vào hoạt động học tập hằng ngày, câu hỏi không còn dừng ở việc học sinh, sinh viên có sử dụng công nghệ hay không. Điều cần đo lường rõ hơn là họ sử dụng nó trong trạng thái nào, có còn đọc nguồn gốc hay không, có kiểm chứng thông tin hay không, và điều gì xảy ra khi dòng nội dung vượt quá khả năng tiếp nhận.
Nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Kim Dung hiện chưa cho phép đưa ra những kết luận rộng kiểu một mô hình có thể giải quyết tình trạng quá tải thông tin của người trẻ. Công trình về binge-watching chỉ khảo sát 151 học sinh ở một trường; nghiên cứu đạo đức AI có 68 cán bộ thư viện tại Hà Nội. Nhưng chính việc công bố rõ phạm vi mẫu, phân biệt liên hệ với quan hệ nhân quả và tách các thành phần tâm lý khác nhau giúp những kết quả này có giá trị hơn những nhận định chung chung về “nghiện màn hình” hay “lệ thuộc AI”.
Ở hướng nghiên cứu ấy, công nghệ không phải nhân vật chính duy nhất. Người sử dụng thông tin mới là đối tượng cần được hiểu kỹ: họ mong chờ điều gì ở nội dung tiếp theo, điều gì khiến họ tiếp tục xem, họ đánh giá câu trả lời của AI ra sao và có đủ năng lực để dừng lại, đối chiếu hay phản biện hay không. Khi lượng thông tin tiếp tục tăng, những câu hỏi đó ngày càng gần với đời sống học tập hơn là một vấn đề chỉ nằm trong thư viện hay phòng nghiên cứu.





















Triển khai nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo đại trà từ năm học 2026-2027
Dùng AI trong giờ Ngữ văn mà không để máy nghĩ thay học sinh
PGS.TS Ngô Thị Huyền: Lan tỏa tri thức số bằng trách nhiệm của một nữ trí thức trẻ
Hà Nội chính thức đưa nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo dạy cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12
Cùng chuyên mục
Giữa dòng thông tin số, người trẻ cần gì để không quá tải
Khi AI được thử sức với những bài toán thật
Từ những con số đến văn hóa chất lượng trong đại học
Có dữ liệu nhưng chưa đủ: Bài toán mới của chất lượng đại học
PGS. TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung từ bản án nữ quyền đến cách làm luật
Đi tìm động lực tăng trưởng không chỉ từ vốn và lao động