![]() |
| Đoàn Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế trong chương trình khảo sát, trao đổi về đào tạo và nguồn nhân lực chăm sóc xã hội tại tỉnh Aichi, Nhật Bản, năm 2026. PGS.TS. Huỳnh Thị Ánh Phương là thành viên đoàn. Ảnh: Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. |
Cuối tháng 7/2026, PGS.TS. Huỳnh Thị Ánh Phương cùng đoàn Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế đến tỉnh Aichi, Nhật Bản. Lịch làm việc đưa đoàn vào các tổ chức phúc lợi xã hội đang trực tiếp chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, tìm hiểu từ cách tổ chức dịch vụ đến đào tạo nhân lực và thực hành nghề nghiệp. Đây không chỉ là một hoạt động hợp tác quốc tế thông thường. Nó chạm đúng vấn đề mà nữ giảng viên xã hội học đã nghiên cứu trong thời gian dài: khoảng cách giữa đào tạo công tác xã hội và môi trường mà sinh viên sẽ làm việc sau khi tốt nghiệp.
PGS.TS. Huỳnh Thị Ánh Phương hiện công tác tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế và giữ chức Trưởng Phòng Khoa học, Công nghệ, Hợp tác quốc tế và Thư viện. Bà được công nhận và bổ nhiệm chức danh Phó giáo sư năm 2023, chuyên ngành Xã hội học. Hồ sơ khoa học của Đại học Huế ghi các hướng nghiên cứu gồm giới và phát triển, chính sách xã hội, giáo dục và phát triển cộng đồng, sinh kế và biến đổi khí hậu; trong giảng dạy, bà gắn với công tác xã hội, chính sách xã hội và quản lý dự án xã hội.
Khoảng trống không chỉ nằm ở chương trình học
Đầu năm 2026, Springer Nature xuất bản cuốn Social Work in Asia: Education, Practice, and Service. PGS.TS. Huỳnh Thị Ánh Phương cùng TS. Trương Thị Yến và Lê Thị Kim Dung đóng góp chương về những thách thức của đào tạo công tác xã hội ở Việt Nam. Đây là nghiên cứu tổng quan tài liệu, vì vậy các nhận định trong chương không nên được hiểu như kết quả của một cuộc điều tra mới trên toàn bộ các trường đang đào tạo ngành này. Tuy nhiên, việc hệ thống lại những vấn đề đã được nhiều nghiên cứu ghi nhận cho phép nhóm tác giả nhận diện một số điểm nghẽn kéo dài.
Một trong số đó là cách xây dựng chương trình. Nhóm tác giả nhận định nhiều chương trình vẫn thiên về truyền đạt nội dung hơn là tổ chức đào tạo quanh những năng lực nghề nghiệp cần đạt. Vấn đề tiếp theo nằm ở đội ngũ: sự phát triển của các cơ sở đào tạo khiến nhu cầu giảng viên tăng, trong khi một bộ phận người dạy xuất thân từ xã hội học, tâm lý học, nhân học hoặc các ngành gần chứ không được đào tạo ban đầu trong chính ngành công tác xã hội.
Đáng chú ý hơn là khâu thực hành. Công tác xã hội không phải nghề chỉ có thể học bằng bài giảng và giáo trình. Sinh viên cần gặp thân chủ, quan sát cách một cơ sở dịch vụ vận hành, học xử lý tình huống, ghi chép hồ sơ, đánh giá nhu cầu, phối hợp với đồng nghiệp và hiểu giới hạn đạo đức nghề nghiệp. Chương sách năm 2026 chỉ ra tình trạng thiếu người hướng dẫn thực hành tại trường và tại cơ sở, liên kết giữa trường đại học với nơi tiếp nhận thực tập chưa đủ chặt và cách đánh giá trải nghiệm thực hành còn những hạn chế.
Đây cũng không phải lần đầu PGS.TS. Huỳnh Thị Ánh Phương đặt câu hỏi về quá trình chuyên nghiệp hóa nghề. Trong một công trình năm 2017 viết cùng Nguyễn Xuân Hồng, bà đã phân tích sự phát triển của công tác xã hội tại Việt Nam sau khi nghề này được chính thức công nhận, đồng thời đề cập những thách thức về nhận thức xã hội, tính chuyên nghiệp trong đào tạo và sự phù hợp với điều kiện văn hóa - xã hội trong nước. Gần một thập niên sau, chương sách năm 2026 cho thấy nhiều câu hỏi đã dịch chuyển sâu hơn vào tiêu chuẩn chương trình, năng lực giảng viên và chất lượng thực hành.
![]() |
| PGS.TS. Huỳnh Thị Ánh Phương (ngồi, thứ hai từ phải sang trong nhóm phía Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế) tại buổi làm việc với đoàn Sở Giáo dục và Thể thao tỉnh Sê Kông, Lào, ngày 1/7/2026. Ảnh: Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. |
Nhóm tác giả năm 2026 còn đề xuất thành lập một hội đồng về đào tạo công tác xã hội để xây dựng tiêu chuẩn và thực hiện kiểm định chương trình. Đây mới là đề xuất học thuật của các tác giả, không phải một thiết chế đã được Nhà nước thành lập hay một chính sách đang có hiệu lực. Sự phân biệt này quan trọng, bởi từ việc xác định một khoảng trống đến khi hình thành một cơ chế kiểm định chính thức còn cần các quyết định thể chế và sự tham gia của nhiều bên.
Khi việc học nghề phải đi vào nơi con người được chăm sóc
Chuyến làm việc tại Nhật Bản từ ngày 29/7 đến 1/8/2026 tạo ra một lớp thực tế khác cho câu chuyện này. Đoàn Đại học Huế đến Yutaka Social Welfare Corporation, Nagoya Lighthouse Social Welfare Corporation, Aikouen Social Welfare Corporation và Co-op Aichi để tìm hiểu cách tổ chức hệ thống phúc lợi, đào tạo nhân lực và cung cấp dịch vụ cho người cao tuổi, người khuyết tật. Trường Đại học Khoa học xác định kinh nghiệm thu nhận từ chuyến đi sẽ được tham khảo trong quá trình đổi mới chương trình và gắn đào tạo với thực tiễn công tác xã hội.
Hai bên đồng thời ký Biên bản ghi nhớ hợp tác lần thứ ba về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chăm sóc xã hội, với các nội dung như thực tập nghề nghiệp, trao đổi giảng viên - sinh viên và phối hợp nghiên cứu. Nhưng một bản ghi nhớ chưa phải bằng chứng cho thấy chất lượng đào tạo đã thay đổi. Giá trị thực tế sẽ chỉ rõ hơn khi những nội dung hợp tác được chuyển thành vị trí thực tập, chương trình giảng dạy, cơ chế giám sát sinh viên hoặc các mô hình dịch vụ có thể đánh giá được.
Bối cảnh trong nước khiến câu chuyện đào tạo nhân lực chăm sóc càng đáng chú ý. Phụ Nữ Mới gần đây đã phản ánh nhu cầu mở rộng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi. Khi số người cần hỗ trợ chăm sóc tăng lên, hệ thống không chỉ cần thêm cơ sở mà còn cần người được đào tạo về công tác xã hội, chăm sóc cộng đồng, phục hồi chức năng và quản lý dịch vụ. Khoảng cách giữa “có chương trình đào tạo” và “có lực lượng làm nghề đủ năng lực” vì vậy trở thành một câu hỏi thực tế chứ không còn thuần túy học thuật.
![]() |
| PGS.TS. Huỳnh Thị Ánh Phương tại buổi làm việc giữa Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế và Tổ chức Fundación Metrópoli (Tây Ban Nha), tháng 6/2026. Tại chương trình, bà thay mặt nhà trường giới thiệu các thế mạnh nghiên cứu và đề xuất hướng hợp tác về đào tạo, nghiên cứu và phát triển bền vững. Ảnh: Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. |
Nghiên cứu của PGS.TS. Huỳnh Thị Ánh Phương cũng không dừng ở giáo dục nghề. Tháng 3/2026, Journal of International Development công bố nghiên cứu mà bà là tác giả liên hệ về sự chuyển đổi sinh kế của 540 hộ ven biển tại Huế. Dữ liệu điều tra năm 2023 được kết hợp với thông tin hồi cứu về lựa chọn sinh kế giai đoạn 2014–2023. Nhóm nghiên cứu ghi nhận xu hướng các hộ rời dần những sinh kế phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên như đánh bắt, nông nghiệp để chuyển sang tự kinh doanh dịch vụ và, ở mức thấp hơn, công việc hưởng lương.
Nghiên cứu không kết luận rằng chuyển nghề đồng nghĩa với thích ứng bền vững. Phần lớn hộ được khảo sát cảm nhận thu nhập cải thiện khi thay đổi sinh kế, nhưng lợi ích đối với bảo vệ tài nguyên, ứng phó khí hậu và thiên tai vẫn hạn chế. Nhóm tác giả vì vậy phân biệt giữa sự thích ứng kinh tế trước mắt và năng lực chống chịu dài hạn. Giáo dục của chủ hộ, tuổi, tiếp cận tín dụng, cơ hội việc làm và các chương trình phát triển có liên hệ với lựa chọn sinh kế, trong khi nhận thức về rủi ro môi trường dài hạn thể hiện vai trò hạn chế hơn trong mô hình phân tích.
Nhìn từ hai mạch công việc tưởng như khác nhau – đào tạo công tác xã hội và sinh kế cộng đồng – có thể thấy đối tượng mà PGS.TS. Huỳnh Thị Ánh Phương theo đuổi không phải một kỹ thuật riêng lẻ. Đó là cách con người và cộng đồng phản ứng trước thay đổi, cùng vai trò của giáo dục, chính sách và dịch vụ xã hội trong quá trình ấy. Với công tác xã hội, khoảng cách cần thu hẹp là từ kiến thức trên lớp đến năng lực xử lý tình huống thật; với sinh kế ven biển, khoảng cách lại nằm giữa việc vượt qua một cú sốc kinh tế trước mắt và xây dựng được khả năng chống chịu lâu dài.
Công việc năm 2026 vì thế chưa tạo ra một “mô hình hoàn chỉnh” có thể đem áp dụng ngay. Chương sách về đào tạo chủ yếu tổng hợp và đề xuất; hợp tác với Nhật Bản đang ở quá trình trao đổi và triển khai; nghiên cứu sinh kế phản ánh một mẫu hộ ở khu vực ven biển Huế chứ không đại diện cho mọi cộng đồng ven biển Việt Nam. Nhưng chính việc giữ những giới hạn ấy giúp thấy rõ hơn đóng góp của một nhà nghiên cứu xã hội: đặt đúng câu hỏi trước khi tìm cách biến tri thức thành chương trình đào tạo hay giải pháp cho cộng đồng.




















Mở rộng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi để phụ nữ bớt gánh nặng
Thêm hai nữ Giáo sư ngành Tâm lý học và Công tác xã hội
Hạ tuổi trợ cấp hưu trí có thể thu hẹp khoảng cách giới
Cùng chuyên mục
Khi đào tạo công tác xã hội cần gần hơn với thực tế
Một cách mở rộng việc đọc và dạy văn học
Giữa dòng thông tin số, người trẻ cần gì để không quá tải
Khi AI được thử sức với những bài toán thật
Từ những con số đến văn hóa chất lượng trong đại học
Có dữ liệu nhưng chưa đủ: Bài toán mới của chất lượng đại học