![]() |
| Nhân viên y tế hỗ trợ một phụ nữ cao tuổi tại chương trình khám, cấp thuốc cộng đồng ở Đà Nẵng năm 2007. Ảnh: Kerryl Cacho/U.S. Navy. |
Một người cao tuổi cần hỗ trợ đi lại, uống thuốc, ăn uống hay vệ sinh cá nhân thường không chỉ cần vài giờ chăm sóc. Công việc có thể kéo dài mỗi ngày, nhiều tháng hoặc nhiều năm và đòi hỏi một thành viên trong gia đình thường xuyên có mặt. Ở Việt Nam, phần việc này hiện vẫn dựa rất lớn vào gia đình.
Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) công bố tháng 2/2026 rằng khoảng 99% người cao tuổi tại Việt Nam phụ thuộc vào chăm sóc gia đình; phụ nữ đảm nhận khoảng 72% trách nhiệm chăm sóc. Cùng lúc, khoảng cách giữa tuổi thọ trung bình 74,7 tuổi và tuổi thọ sống khỏe 65,4 tuổi cho thấy nhiều người có thể trải qua gần một thập kỷ cuối đời với bệnh tật hoặc suy giảm chức năng.
Một phân tích khác của UNFPA, dựa trên Điều tra quốc gia về người cao tuổi năm 2022 và dự báo dân số, ước tính số người cao tuổi cần trợ giúp trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày có thể tăng từ 4,7 triệu người năm 2025 lên khoảng 6,5 triệu người năm 2035, tăng 38% trong một thập kỷ.
Vấn đề vì thế không còn chỉ nằm trong từng gia đình. Nếu nhu cầu chăm sóc tăng nhanh nhưng dịch vụ ngoài gia đình phát triển chậm, phần việc bổ sung rất dễ tiếp tục rơi vào những người đang đảm nhiệm chăm sóc nhiều nhất. Với cấu trúc hiện nay, tác động giới sẽ đặc biệt rõ đối với phụ nữ.
Gia đình vẫn đang là hệ thống chăm sóc chính
Chăm sóc cha mẹ, ông bà là một phần quan trọng của đời sống gia đình và văn hóa Việt Nam. Phát triển dịch vụ xã hội không có nghĩa thay thế tình cảm hay trách nhiệm giữa các thế hệ bằng một cơ sở chăm sóc. Điều cần thay đổi là việc gia đình gần như trở thành lựa chọn mặc định duy nhất.
Một người con gái đang đi làm có thể phải giảm giờ làm để chăm cha mẹ sau đột quỵ. Một phụ nữ ngoài 50 tuổi có thể đồng thời chăm bố mẹ già, hỗ trợ con trưởng thành và tiếp tục công việc của mình. Một người vợ cao tuổi cũng có thể trở thành người chăm sóc chính cho chồng khi cả hai đều đã suy giảm sức khỏe.
Những tình huống ấy không giống nhau, nhưng có điểm chung: khi không có dịch vụ hỗ trợ đủ gần, đủ tin cậy và đủ khả năng chi trả, gia đình phải tự lấp khoảng trống.
Dữ liệu UNFPA cho thấy phụ nữ đang thực hiện phần lớn công việc đó. Đây không phải căn cứ để mặc định mọi gia đình đều giao việc chăm sóc cho phụ nữ, nhưng đủ để cho thấy chính sách người cao tuổi cũng cần được nhìn bằng lăng kính giới.
Tác động không chỉ là sự mệt mỏi. Thời gian chăm sóc có thể ảnh hưởng đến khả năng làm việc toàn thời gian, học thêm, thăng tiến, duy trì thu nhập và đóng bảo hiểm xã hội. Với những người đã ở độ tuổi trung niên, một giai đoạn rời thị trường lao động để chăm người thân còn có thể ảnh hưởng tới an sinh của chính họ khi về già.
Đó là điểm nối trực tiếp với quyền nghỉ ngơi của phụ nữ. Nếu dịch vụ chăm sóc thiếu hụt, quyền nghỉ ngơi khó được bảo đảm chỉ bằng việc kêu gọi các thành viên gia đình “chia sẻ nhiều hơn”.
![]() |
| Một phụ nữ cao tuổi ngồi cùng trẻ em tại Việt Nam. Ảnh: Peter van der Sluijs/Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0. |
Điều cần tránh ở đây là gọi chính người cao tuổi là “gánh nặng”. Già hóa dân số là thành quả của tuổi thọ tăng lên. Gánh nặng cần giảm là khối lượng chăm sóc không được hỗ trợ đầy đủ và phân bổ không cân bằng, chứ không phải giá trị hay sự hiện diện của người cao tuổi trong gia đình. Chính sách hiện hành của Việt Nam đã bắt đầu dịch chuyển theo hướng này.
Chính sách đang mở thêm các tầng chăm sóc
Ngày 21/2/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 383/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045.
Chiến lược không chỉ đặt mục tiêu về bảo hiểm y tế hay khám chữa bệnh. Một nhóm nhiệm vụ riêng hướng tới phát triển mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội cung cấp dịch vụ chăm sóc và phục hồi chức năng; đầu tư cơ sở công lập; xây dựng các mô hình chăm sóc dài hạn, chăm sóc có thời hạn, chăm sóc bán trú, dưỡng lão và chăm sóc tại cộng đồng.
Một chỉ tiêu đáng chú ý là đến năm 2030, ít nhất 50% gia đình có người cao tuổi bị suy giảm trí nhớ, khuyết tật nặng hoặc gặp những khó khăn khác được tập huấn, hướng dẫn kỹ năng chăm sóc, trợ giúp và phục hồi chức năng.
Bộ Y tế sau đó cụ thể hóa Chiến lược bằng kế hoạch triển khai. Kế hoạch yêu cầu phát triển mạng lưới nhân viên chăm sóc tại nhà và cộng đồng; xây dựng các mô hình chăm sóc dài hạn, có thời hạn và bán trú; đồng thời đào tạo chuyên sâu nhân lực công tác xã hội, chăm sóc và phục hồi chức năng cho người cao tuổi. Đây là bước thay đổi đáng quan tâm.
Nếu trước đây câu hỏi chủ yếu là “gia đình chăm người cao tuổi thế nào”, hệ thống chính sách đang dần đặt thêm câu hỏi “xã hội cung cấp dịch vụ gì để gia đình không phải tự làm tất cả”.
Ngày 1/8/2025, Quyết định 1648/QĐ-TTg tiếp tục phê duyệt Đề án nhân rộng Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau đến năm 2035. Riêng giai đoạn 2025–2030, đề án đặt mục tiêu thành lập mới ít nhất 6.000 câu lạc bộ, thu hút tối thiểu 300.000 người cao tuổi; nữ giới được định hướng chiếm 50–60% số người cao tuổi tham gia.
Các câu lạc bộ không phải nhà dưỡng lão. Vai trò chính nằm ở lớp hỗ trợ ngay tại cộng đồng: theo dõi sức khỏe cơ bản, tương trợ, hoạt động sinh kế, kết nối xã hội và sự hỗ trợ giữa các thế hệ. UNFPA coi mạng lưới này là một thành tố của mô hình chăm sóc tích hợp dài hạn tại địa phương.
Đến tháng 3/2026, định hướng phát triển “kinh tế bạc” tiếp tục đặt ra yêu cầu huy động đầu tư vào hệ thống dịch vụ cho người cao tuổi và nhân rộng các mô hình cộng đồng. Điều đó cho thấy chăm sóc người cao tuổi đang dần được đặt vào một hệ sinh thái rộng hơn gồm y tế, trợ giúp xã hội, dịch vụ cộng đồng và thị trường dịch vụ. Đây chính là khoảng trống mà chính sách giới cần theo sát.
Có thêm dịch vụ chưa chắc phụ nữ đã bớt việc
Một chính sách có thể tăng số cơ sở chăm sóc nhưng chưa chắc lập tức giảm khối lượng việc không lương của phụ nữ.
Ví dụ, tập huấn cho gia đình cách chăm người bị sa sút trí tuệ là cần thiết. Người chăm biết cách hỗ trợ vận động, dùng thuốc và xử lý tình huống sẽ giúp người cao tuổi an toàn hơn.
Nhưng nếu sau khóa tập huấn, gia đình vẫn chỉ có một phụ nữ phải túc trực cả ngày, chính sách đã nâng kỹ năng của người chăm nhưng chưa giảm thời gian chăm sóc. Đây là khác biệt quan trọng giữa “hỗ trợ người chăm” và “chia sẻ việc chăm”.
Muốn tác động đến khoảng cách giới, hệ thống cần có thêm những dịch vụ cho phép gia đình thực sự chuyển giao một phần công việc: chăm sóc tại nhà theo giờ, trung tâm ban ngày, phục hồi chức năng tại cộng đồng, dịch vụ nghỉ thay cho người chăm, tư vấn từ xa, vận chuyển người cao tuổi hoặc chăm sóc dài hạn khi mức độ phụ thuộc tăng cao.
Không phải mọi người cao tuổi đều cần cùng một loại dịch vụ. Người vẫn tự chủ có thể cần môi trường vận động, giao lưu và phòng bệnh. Người bắt đầu suy giảm chức năng có thể cần trợ giúp vài giờ mỗi ngày. Người sau đột quỵ, sa sút trí tuệ hoặc khuyết tật nặng lại cần chăm sóc chuyên sâu và liên tục hơn.
Vì thế, câu lạc bộ cộng đồng là một tầng quan trọng nhưng không thể thay thế toàn bộ mạng lưới chăm sóc chuyên nghiệp.
![]() |
| Khu tập thể dục ngoài trời dành cho người lớn, phần lớn là người cao tuổi, tại Ecopark, Hưng Yên. Ảnh: Donald Trung/Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0. |
Khả năng chi trả cũng là một điểm phải tính đến. Nếu dịch vụ chuyên nghiệp chỉ có ở thành phố lớn hoặc mức phí vượt quá thu nhập của nhiều gia đình, phụ nữ có thu nhập thấp, ở nông thôn hoặc làm việc phi chính thức vẫn có thể phải tự đảm nhiệm phần lớn công việc.
UNFPA cũng lưu ý bất lợi ở tuổi già tích lũy khác nhau giữa các nhóm. Phụ nữ cao tuổi có thể đối diện đồng thời với tuổi thọ dài hơn, thu nhập trọn đời thấp hơn, quá trình việc làm bị gián đoạn và mức bao phủ lương hưu hạn chế hơn. Như vậy, phụ nữ đứng ở cả hai phía của chính sách chăm sóc.
- Một phía là phụ nữ trung niên và lớn tuổi đang chăm người thân.
- Phía kia là chính những phụ nữ cao tuổi cần dịch vụ chăm sóc khi sức khỏe suy giảm.
Phát triển hệ thống chỉ thực sự có ý nghĩa giới nếu cả hai nhóm đều được nhìn thấy.
Đừng biến việc chăm sóc không lương thành việc làm lương thấp
Mở rộng dịch vụ chăm sóc còn tạo ra một cơ hội kinh tế đáng kể. Khi nhu cầu chăm sóc tăng, xã hội sẽ cần thêm nhân viên chăm sóc tại nhà, nhân viên công tác xã hội, điều dưỡng lão khoa, kỹ thuật viên phục hồi chức năng, người quản lý cơ sở và nhiều dịch vụ hỗ trợ khác.
UNFPA đề xuất nhìn chăm sóc như một hệ thống kinh tế - xã hội, đồng thời chuyên nghiệp hóa công việc này thành việc làm được bảo vệ và có điều kiện lao động thỏa đáng. Điểm này đặc biệt quan trọng đối với bình đẳng giới.
Nếu thị trường mới tiếp tục mặc định “phụ nữ hợp với việc chăm sóc”, ngành chăm sóc chuyên nghiệp có thể trở thành một khu vực lao động nữ đông nhưng lương thấp, ít bảo hiểm và ít cơ hội thăng tiến. Khi đó, xã hội chỉ chuyển một phần lao động không lương của phụ nữ trong gia đình sang lao động được trả công nhưng định giá thấp ngoài thị trường.
Kết quả ấy chưa phải bình đẳng. Chuyên nghiệp hóa cần đi cùng tiêu chuẩn nghề, đào tạo, hợp đồng lao động, tiền lương phù hợp, bảo hiểm xã hội, an toàn nghề nghiệp và con đường phát triển nghề nghiệp. Nam giới cũng cần được khuyến khích bước vào lĩnh vực chăm sóc thay vì tiếp tục coi đây là một “nghề của phụ nữ”.
Kế hoạch của Bộ Y tế đã đặt nhiệm vụ xây dựng chương trình đào tạo công tác xã hội, chăm sóc và phục hồi chức năng cho người cao tuổi, đồng thời bồi dưỡng kỹ năng chuyên sâu cho nhân viên và cộng tác viên. Giai đoạn 2026–2030 là một mốc đáng theo dõi để xem chăm sóc có thực sự hình thành thành một lực lượng nghề nghiệp được chuẩn hóa hay không.
Cách nhìn này cũng phù hợp với hướng chính sách phải tính đến việc chăm sóc thay vì coi thời gian chăm sóc là nguồn lực miễn phí mặc nhiên có sẵn trong mỗi gia đình.
Cần đo cả số giờ phụ nữ được giải phóng khỏi việc chăm sóc
Chiến lược quốc gia đã đặt nhiều chỉ tiêu cụ thể về cơ sở, câu lạc bộ, sức khỏe, tập huấn và hỗ trợ. Tuy nhiên, để biết hệ thống chăm sóc có tạo ra tác động bình đẳng giới hay không, cần thêm một lớp dữ liệu khác.
Chẳng hạn, sau khi một địa phương mở trung tâm chăm sóc ban ngày, cần biết có bao nhiêu người cao tuổi sử dụng, trong đó bao nhiêu nữ và nam; mức độ phụ thuộc của họ ra sao; gia đình phải trả bao nhiêu; người chăm chính trước đó là ai. Quan trọng hơn, có thể đo số giờ chăm sóc không lương mà dịch vụ đã thay thế.
Nếu một phụ nữ trước đây dành 30 giờ mỗi tuần chăm người thân và sau khi có dịch vụ cộng đồng con số giảm còn 15 giờ, đó là một kết quả chính sách có thể nhìn thấy.
Nếu số cơ sở tăng nhưng phụ nữ vẫn phải dành từng ấy thời gian chăm sóc, hệ thống có thể đang mở rộng về quy mô nhưng chưa chạm đúng nhu cầu.
Dữ liệu cũng cần phân tách theo thành thị - nông thôn, thu nhập, khuyết tật và nhóm dân tộc. Một mô hình hoạt động tốt ở khu vực đô thị đông dân chưa chắc phù hợp với những địa bàn mà người cao tuổi sống phân tán và dịch vụ chuyên môn ở xa.
Tiếng nói của người cao tuổi và người trực tiếp chăm sóc cũng nên được đưa vào quá trình thiết kế, giám sát và đánh giá.
Phụ nữ không chỉ cần được khảo sát như người đang chịu áp lực thời gian. Nhiều người có kinh nghiệm chăm sóc thực tế nhiều năm và có thể chỉ ra dịch vụ nào gia đình thật sự cần: vài giờ chăm thay, phục hồi chức năng tại nhà, trung tâm ban ngày, tư vấn sa sút trí tuệ hay người hỗ trợ đưa bệnh nhân đi khám.
Tương tự, người cao tuổi phải có tiếng nói về nơi họ muốn sống, loại hình chăm sóc họ chấp nhận, mức độ riêng tư và quyền tự quyết. Chính sách giảm việc chăm sóc không lương không được đánh đổi bằng việc làm giảm quyền lựa chọn của người được chăm sóc.
*Già hóa dân số vì vậy đặt ra hai bài toán cùng lúc.
- Một là làm thế nào để người cao tuổi được sống lâu hơn trong sức khỏe, tự chủ và có phẩm giá.
- Hai là làm thế nào để nhu cầu chăm sóc ngày càng lớn không mặc nhiên biến thành thêm nhiều năm lao động không lương của phụ nữ.
Chiến lược quốc gia, kế hoạch triển khai của Bộ Y tế và việc mở rộng Câu lạc bộ liên thế hệ đã tạo ra những cấu phần đầu tiên cho một hệ thống chăm sóc đa tầng.
Phần khó hơn nằm ở thực thi. Thước đo cuối cùng không nên chỉ là có thêm bao nhiêu câu lạc bộ hay cơ sở. Cần biết người cao tuổi nhận được dịch vụ tốt hơn đến đâu, gia đình có thêm lựa chọn gì và phụ nữ thực sự giảm được bao nhiêu thời gian chăm sóc không lương.
Khi trách nhiệm chăm sóc được chia sẻ giữa gia đình, cộng đồng, Nhà nước và thị trường dịch vụ, tuổi già mới không đồng nghĩa với việc một phụ nữ khác trong gia đình phải âm thầm bắt đầu thêm một ca làm việc.
Ba mục tiêu chăm sóc người cao tuổi đáng theo dõi
Ít nhất 50% gia đình: Đến năm 2030, Chiến lược quốc gia đặt mục tiêu ít nhất 50% gia đình có người cao tuổi bị suy giảm trí nhớ, khuyết tật nặng hoặc gặp khó khăn khác được tập huấn, hướng dẫn kỹ năng chăm sóc, trợ giúp và phục hồi chức năng.
Ít nhất 6.000 câu lạc bộ mới: Giai đoạn 2025–2030, Đề án nhân rộng Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau đặt mục tiêu thành lập mới tối thiểu 6.000 câu lạc bộ và thu hút ít nhất 300.000 người cao tuổi tham gia; tỷ lệ nữ người cao tuổi được định hướng ở mức 50–60%.
Phát triển nhiều hình thức chăm sóc: Kế hoạch của Bộ Y tế yêu cầu xây dựng chăm sóc dài hạn, chăm sóc có thời hạn, chăm sóc bán trú, dưỡng lão, chăm sóc tại nhà và cộng đồng; đồng thời phát triển, đào tạo lực lượng nhân viên chăm sóc.




















Quyền nghỉ ngơi của phụ nữ bị thu hẹp từ những việc không lương
Hạ tuổi trợ cấp hưu trí có thể thu hẹp khoảng cách giới
Muốn phụ nữ sinh con, chính sách phải tính đến việc chăm sóc
Cùng chuyên mục
Mở rộng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi để phụ nữ bớt gánh nặng
Từ năm 2026, giáo viên mầm non có thêm lựa chọn nghỉ hưu sớm
Đấu thầu công mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ
Người nhận việc về nhà làm cũng cần được bảo vệ an toàn
Ưu tiên trẻ em gái trong tiêm HPV miễn phí là lựa chọn hợp lý
Chính sách giảm tảo hôn cần đi đúng nhóm trẻ có nguy cơ cao