![]() |
| Người Dao đỏ tại một khu vực miền núi tỉnh Lào Cai, ảnh tư liệu năm 2013. Chính sách giảm tảo hôn cần được thiết kế theo đặc điểm của từng địa bàn và cộng đồng, thay vì áp dụng một cách tiếp cận giống nhau ở mọi nơi. Ảnh: Peter Olshevsky/Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0. |
Tỷ lệ tảo hôn trong đồng bào dân tộc thiểu số đã giảm đáng kể, nhưng mức bình quân toàn quốc đang che khuất những khác biệt rất lớn giữa từng dân tộc, vùng cư trú, độ tuổi và giới.
Kết quả Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024 cho thấy tỷ lệ tảo hôn của người dân tộc thiểu số kết hôn trong năm 2023 là 14,8%, giảm 7,1 điểm phần trăm so với mức 21,9% năm 2018. Cuộc điều tra năm 2024 là lần thứ ba Việt Nam thực hiện khảo sát chuyên biệt này, sau các đợt năm 2015 và 2019, nhằm cung cấp dữ liệu phục vụ hoạch định và đánh giá chính sách dân tộc.
Đó là một chuyển biến tích cực. Nhưng bước vào giai đoạn 2026–2030, chính sách không thể chỉ tiếp tục truyền thông đại trà với giả định mọi nơi cùng đối mặt một loại rủi ro.
Thông tư 02/2026/TT-BDTTG của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, ban hành và có hiệu lực từ ngày 4/6/2026, đã xác định riêng hoạt động giảm thiểu tảo hôn, hôn nhân cận huyết trong Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn mới. Đối tượng gồm vị thành niên, thanh niên, học sinh, cha mẹ, người giám hộ, phụ nữ và nam giới, người có uy tín, cán bộ cơ sở, giáo viên và nhân viên y tế; trong đó ưu tiên địa bàn có tỷ lệ tảo hôn cao.
Khung đối tượng đã khá rộng. Việc còn lại là sử dụng dữ liệu để biết trong những nhóm đó, ai cần được can thiệp trước và bằng cách nào.
14,8% là mức bình quân che giấu chênh lệch lớn
Tảo hôn không phân bố đều trong 53 dân tộc thiểu số.
Kết quả điều tra năm 2024 cho thấy tỷ lệ của người Mông trong số những người kết hôn năm 2023 ở mức 35,9%, người Xinh Mun 29,2%. Theo vùng, Tây Nguyên ở mức 18,8%, còn Trung du và miền núi phía Bắc là 16,1%. Những mức này cao hơn đáng kể so với bình quân 14,8% của toàn bộ 53 dân tộc thiểu số.
Chênh lệch ấy có một hàm ý chính sách quan trọng: cùng một nội dung tuyên truyền, cùng tần suất và cùng cách triển khai trên mọi địa bàn sẽ khó tạo hiệu quả tương đương.
Một xã có tỷ lệ tảo hôn thấp cần cách duy trì kết quả khác với một địa bàn mà tảo hôn vẫn tập trung cao. Một cộng đồng có nguy cơ chủ yếu ở nhóm 17 tuổi cũng cần cách tiếp cận khác với nơi việc kết hôn sớm xuất hiện từ nhóm tuổi thấp hơn.
Quan trọng hơn, mức cao ở một số dân tộc không nên trở thành lý do gắn nhãn cả cộng đồng là “lạc hậu”. Chính sách cần phân biệt những tập quán văn hóa tích cực với những thực hành không còn phù hợp với pháp luật và quyền của trẻ em.
Thông tư 02/2026 cũng yêu cầu việc triển khai phải phù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa, ngôn ngữ và nhu cầu thực tế của từng dân tộc, từng địa bàn; đồng thời thực hiện lồng ghép giới và ưu tiên phụ nữ, trẻ em cùng các nhóm dễ bị tổn thương.
Đây chính là cơ sở để chuyển từ truyền thông “một mẫu cho tất cả” sang can thiệp theo dữ liệu địa phương.
Trẻ gái và trẻ trai không đứng trước cùng một rủi ro
Một phân tích chuyên sâu do UNICEF công bố dựa trên Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024 cho thấy trong nhóm trẻ dân tộc thiểu số dưới 18 tuổi, 1,2% đang kết hôn. Tỷ lệ ở trẻ gái là 2,1%, cao hơn rõ rệt so với 0,4% ở trẻ trai. Ở tuổi 17, tỷ lệ đang kết hôn tăng lên 6,1%; tại nông thôn là 1,3%, trong khi thành thị ở mức 0,4%.
Những số liệu này không thể đặt cạnh con số tảo hôn 14,8% rồi so sánh trực tiếp, bởi hai chỉ báo khác nhau.
Chỉ số 1,2% của UNICEF đo trẻ dưới 18 tuổi đang kết hôn. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam quy định tuổi kết hôn tối thiểu của nữ là đủ 18 tuổi, của nam là đủ 20 tuổi. Vì vậy, một nam thanh niên 18 hoặc 19 tuổi kết hôn vẫn thuộc trường hợp chưa đủ tuổi kết hôn theo pháp luật Việt Nam, dù không còn thuộc nhóm “trẻ dưới 18 tuổi”.
*Sự khác biệt này cho thấy chính sách đáp ứng giới không thể chỉ tập trung vào trẻ gái.
Trẻ gái dưới 18 tuổi có tỷ lệ kết hôn cao hơn và cần được ưu tiên bảo vệ trước nguy cơ nghỉ học sớm, mang thai sớm hoặc thu hẹp lựa chọn nghề nghiệp. Nhưng thanh niên nam 18–19 tuổi cũng cần được tiếp cận kiến thức pháp luật, kỹ năng sống và thông tin về hệ quả của việc lập gia đình khi chưa đủ tuổi theo quy định.
![]() |
| Trường Dân tộc nội trú Lâm Đồng, ảnh tư liệu năm 2011. Trường học là một trong những môi trường được chính sách xác định để tiếp cận vị thành niên và học sinh trong phòng ngừa tảo hôn. Ảnh: Diane Selwyn/Wikimedia Commons, Public Domain. |
Nếu chỉ coi tảo hôn là “vấn đề của trẻ em gái”, một phần đối tượng mà pháp luật đang bảo vệ sẽ bị bỏ khỏi chính sách.
Ngược lại, nếu chỉ truyền thông chung cho “thanh thiếu niên”, khác biệt rất lớn về mức độ rủi ro giữa trẻ gái và trẻ trai cũng dễ bị hòa vào số trung bình.
Điều 12 Thông tư 02/2026 đã mở đúng hướng khi liệt kê cả vị thành niên, thanh niên, phụ nữ và nam giới trong nhóm đối tượng. Bước thực thi cần tiến thêm một bước bằng cách phân nhóm theo tuổi và giới thay vì chỉ báo cáo tổng số người tham gia hoạt động.
Đây cũng phù hợp với định hướng Dự án 8 giai đoạn 2026–2030, trong đó việc giải quyết những vấn đề xã hội cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em vùng dân tộc thiểu số tiếp tục được xác định là một nhóm chính sách trọng tâm.
Truyền thông đại trà chưa đủ
Thông tư 02/2026 quy định truyền thông trên toàn quốc về giảm thiểu tảo hôn, hôn nhân cận huyết và tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật về hôn nhân, gia đình, bình đẳng giới và phòng chống tảo hôn. Đây là những công cụ cần thiết để phổ biến thông tin.
Nhưng nếu hiệu quả chỉ được đo bằng số cuộc truyền thông, số cuộc thi hoặc số người tham dự, chính sách có thể đạt đầu ra hành chính mà chưa chắc thay đổi được quyết định kết hôn.
Dữ liệu năm 2024 cho thấy yếu tố giáo dục và kỹ năng cần được đưa vào sâu hơn. Trong nhóm người dân tộc thiểu số tảo hôn, chỉ 11,3% có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trong khi tỷ lệ tương ứng ở những người không tảo hôn là 37,3%. Đây là mối liên hệ thống kê, không phải bằng chứng rằng thiếu bằng cấp tự nó gây ra tảo hôn.
Phân tích của UNICEF cũng cho thấy trong nhóm 15–17 tuổi, tỷ lệ lao động trẻ em ở những người đã kết hôn là 20,6%, so với 16,1% ở những người chưa kết hôn. Một lần nữa, số liệu cho thấy sự đi cùng giữa các bất lợi chứ không chứng minh quan hệ nhân quả một chiều.
*Những dữ liệu này đặt ra yêu cầu chính sách rộng hơn tuyên truyền pháp luật.
Một trẻ 17 tuổi đứng trước nguy cơ nghỉ học và kết hôn cần được giữ trong hệ thống giáo dục hoặc kết nối với học nghề, tư vấn nghề nghiệp và cơ hội sinh kế. Một gia đình muốn con kết hôn sớm do áp lực kinh tế cần được tiếp cận bằng cách khác với một trường hợp xuất phát chủ yếu từ chuẩn mực cộng đồng.
Cha mẹ và người giám hộ cũng không thể chỉ được coi là “đối tượng cần tuyên truyền”. Họ cần được tham gia thảo luận về chi phí – lợi ích của việc tiếp tục học, khả năng học nghề, việc làm và những phương án thực tế để gia đình không phải xem kết hôn sớm như một lựa chọn kinh tế.
![]() |
| Một hoạt động tập huấn giáo viên trong chương trình hỗ trợ giáo dục trẻ em dân tộc thiểu số tại Kon Tum, ảnh tư liệu năm 2011. Giáo dục và khả năng phát hiện sớm nguy cơ là một phần quan trọng của mạng lưới phòng ngừa tảo hôn. Ảnh: USAID Vietnam/Wikimedia Commons, Public Domain. |
Người có uy tín, giáo viên, nhân viên y tế và cán bộ cơ sở mà Thông tư 02 đã xác định là đối tượng tham gia có thể trở thành mạng lưới phát hiện sớm nguy cơ, nhưng chỉ khi họ được kết nối với nhau.
Giáo viên có thể nhận thấy học sinh nghỉ học bất thường. Nhân viên y tế có thể gặp vị thành niên cần tư vấn sức khỏe sinh sản. Hội, đoàn thể và người có uy tín có khả năng tiếp cận gia đình. Cán bộ hộ tịch nắm thông tin về đăng ký kết hôn, nhưng cũng cần lưu ý rằng tảo hôn có thể xảy ra mà không đăng ký hợp pháp, nên không thể dùng hồ sơ hộ tịch làm nguồn duy nhất để đánh giá thực trạng. Chính sách vì thế cần một chuỗi hỗ trợ, không chỉ một chuỗi tuyên truyền.
Đo kết quả thay vì đếm số cuộc tuyên truyền
Thông tư 02/2026 đặt nguyên tắc các hoạt động phải gắn với mục tiêu, chỉ tiêu, sản phẩm đầu ra và kết quả có khả năng đo lường cụ thể. Đây là cơ sở để thiết kế hệ thống đánh giá sâu hơn số lượng hoạt động.
*Ít nhất bốn nhóm chỉ số nên được theo dõi ở địa bàn có nguy cơ cao.
- Thứ nhất là tỷ lệ tảo hôn theo tuổi, giới, dân tộc và địa bàn. Mức bình quân cấp tỉnh hoặc toàn quốc không đủ để phát hiện những điểm nóng nhỏ hơn.
- Thứ hai là các chỉ báo liên quan đến việc tiếp tục học: tỷ lệ đi học, nghỉ học, quay lại trường, vào học nghề hoặc tham gia đào tạo kỹ năng của nhóm tuổi có nguy cơ cao.
- Thứ ba là đường tiếp cận dịch vụ. Cần biết bao nhiêu trường hợp được phát hiện sớm, được tư vấn, được hỗ trợ học tập hoặc sinh kế và bao nhiêu trường hợp vẫn dẫn tới kết hôn khi chưa đủ tuổi.
- Thứ tư là chất lượng tham gia của chính thanh thiếu niên.
Trẻ gái và trẻ trai không nên chỉ xuất hiện trong hội trường để nghe người lớn nói về mình. Các em cần được hỏi xem vì sao bạn bè cùng tuổi lựa chọn kết hôn, điều gì khiến việc tiếp tục học khó khăn, ngôn ngữ và kênh truyền thông nào thực sự được sử dụng, và hỗ trợ nào có khả năng làm thay đổi lựa chọn.
Cách tiếp cận này cũng tránh biến việc giảm tảo hôn thành áp lực thành tích đối với địa phương. Một xã báo cáo “không có trường hợp” chưa chắc đã tốt hơn một xã phát hiện được nhiều trường hợp nguy cơ, can thiệp sớm và hỗ trợ được trẻ. Mục tiêu cuối cùng phải là giảm số người kết hôn khi chưa đủ tuổi, chứ không phải giảm số trường hợp được ghi nhận.
Trong quá trình đó, cần tiếp tục phát huy những tập tục văn hóa tốt đẹp và vai trò tích cực của cộng đồng, thay vì đánh đồng văn hóa dân tộc thiểu số với tảo hôn.
Việc tỷ lệ tảo hôn giảm từ 21,9% xuống 14,8% cho thấy thay đổi là có thể. Nhưng càng giảm, phần còn lại càng có khả năng tập trung ở những nhóm khó tiếp cận hơn.
Giai đoạn 2026–2030 vì vậy cần chuyển trọng tâm từ phủ rộng sang đánh đúng nguy cơ: trẻ gái dưới 18 tuổi, thanh niên nam chưa đủ tuổi kết hôn theo luật, những địa bàn có tỷ lệ cao, học sinh có nguy cơ rời trường và các gia đình đang đứng trước áp lực kinh tế hoặc xã hội cụ thể.
Bình đẳng giới trong chính sách giảm tảo hôn không phải chỉ bảo vệ trẻ gái. Đó là nhìn chính xác trẻ gái và trẻ trai đang chịu những rủi ro khác nhau như thế nào, rồi bảo đảm cả hai có đủ thời gian, kiến thức và lựa chọn để bước vào hôn nhân khi đã trưởng thành và tự nguyện.





















Hội thảo tham vấn Dự án 8: Hoàn thiện giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới vùng DTTS giai đoạn 2026-2030
Tạo đột phá trong thúc đẩy bình đẳng giới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Phát huy tập tục văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong thúc đẩy bình đẳng giới
Phụ nữ dân tộc thiểu số và hành trình vượt qua sự im lặng.
Cùng chuyên mục
Chính sách giảm tảo hôn cần đi đúng nhóm trẻ có nguy cơ cao
Cơ hội của cán bộ nữ cần được đo từ đào tạo đến bổ nhiệm
Chọn người có uy tín vùng dân tộc thiểu số không phân biệt giới
Cha mẹ đơn thân nghèo sẽ được trợ cấp 540.000 đồng mỗi con
Người giúp việc gia đình vẫn ngoài bảo hiểm thất nghiệp
Nông thôn mới nâng ngưỡng phụ nữ tham gia mô hình kinh tế