![]() |
| Phụ nữ tại Lai Châu tham gia phát triển kinh tế từ các nguồn lực và sản phẩm tại địa phương. Ảnh: VGP/Tuấn Anh. |
Đường giao thông, nước sạch, thu nhập hay trường học là những thước đo quen thuộc khi nói về một xã nông thôn mới. Nhưng chất lượng phát triển còn có thể được nhìn từ những câu hỏi khác: phụ nữ có mặt trong bộ máy lãnh đạo hay không, họ tham gia các mô hình kinh tế ở mức nào, người bị bạo lực có nơi tạm lánh và cộng đồng có còn xảy ra tảo hôn, cưỡng ép kết hôn hay không.
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026–2030 ban hành theo Quyết định 51/2025/QĐ-TTg, có hiệu lực từ ngày 15/2/2026, tiếp tục đặt “đảm bảo bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới” thành một nội dung bắt buộc phải đạt. Điểm đáng quan tâm của giai đoạn mới là một số ngưỡng đã được nâng lên và cách chứng minh kết quả cụ thể hơn.
Trong hướng dẫn thực hiện, Bộ Nội vụ yêu cầu phụ nữ chiếm ít nhất 40% số người tham gia các mô hình phát triển kinh tế ở nông thôn. Giai đoạn 2021–2025, hướng dẫn tương ứng quy định mức tối thiểu 30%. Một thay đổi 10 điểm phần trăm tưởng chỉ là điều chỉnh kỹ thuật, nhưng nếu được thực hiện đúng, nó có thể mở rộng đáng kể sự hiện diện của phụ nữ trong những hoạt động tạo thu nhập ngay tại địa phương.
Từ có mặt đến tham gia nhiều hơn vào kinh tế nông thôn
Tiêu chí 6.5 thuộc nhóm “Giảm nghèo và an sinh xã hội”. Theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ, các mô hình được tính bao gồm hợp tác xã, dự án giảm nghèo, mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm chủ lực và các mô hình phát triển kinh tế nông thôn khác. Từng mô hình phải có số liệu về tổng số người tham gia, số phụ nữ và tỷ lệ tương ứng để làm căn cứ đánh giá.
Việc nâng ngưỡng từ 30% lên 40% có ý nghĩa ở chỗ phụ nữ không chỉ được nhìn như đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh, mà là người trực tiếp tham gia quá trình tạo ra giá trị kinh tế ở nông thôn.
Bối cảnh thực tế cũng đang tạo nền cho mục tiêu này. Báo cáo giữa kỳ Đề án “Hỗ trợ hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lý, tạo việc làm cho lao động nữ đến năm 2030” cho biết, trong giai đoạn 2023–2025 và 6 tháng đầu năm 2026, các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ đã hỗ trợ củng cố 1.137 hợp tác xã với 10.032 thành viên và 6.598 tổ hợp tác. Các mô hình sau hỗ trợ tạo việc làm ổn định cho hơn 15.000 thành viên, lao động nữ trong hợp tác xã và trên 40.000 lao động nữ trong tổ hợp tác.
Đồng thời, chính sách khuyến nông mới có hiệu lực trong tháng 8/2026 cũng xác định phụ nữ là một trong những nhóm được ưu tiên đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng. Đây là một điều kiện hỗ trợ để tỷ lệ tham gia không dừng ở việc điền tên vào danh sách mà gắn với khả năng tiếp cận kỹ thuật và tri thức sản xuất. Phụ Nữ Mới đã phân tích vấn đề này qua chính sách phụ nữ tiếp cận tri thức nông nghiệp.
![]() |
| Thủ tướng Chính phủ cùng các nữ lãnh đạo, quản lý các cơ quan Trung ương tại cuộc gặp mặt tháng 3/2026. Ảnh: VGP/Nhật Bắc. |
Tuy nhiên, 40% người tham gia chưa tự động đồng nghĩa phụ nữ nắm 40% quyền quyết định. Một phụ nữ có thể là thành viên hợp tác xã hoặc lao động trong mô hình nhưng vẫn ít tham gia quyết định phương án sản xuất, sử dụng vốn, mua thiết bị, ký hợp đồng hay lựa chọn thị trường. Vì vậy, sau chỉ số số lượng cần có thêm các chỉ số về chất lượng tham gia: phụ nữ giữ bao nhiêu vị trí quản lý, thu nhập thay đổi ra sao, có tiếp cận tín dụng và công nghệ không, có quyền quyết định đối với nguồn lực sản xuất hay không. Đó mới là khoảng cách giữa “có phụ nữ tham gia” và phụ nữ thực sự có quyền năng kinh tế.
Quy hoạch cán bộ nữ có một ngưỡng cụ thể
Giai đoạn 2026–2030 còn bổ sung một ngưỡng đáng chú ý đối với cán bộ nữ. Một xã đáp ứng nội dung này khi có cán bộ nữ trong Ban Thường vụ Đảng ủy hoặc có ít nhất một nữ lãnh đạo ở cấp xã thuộc các chức danh được hướng dẫn. Đồng thời, tỷ lệ quy hoạch cấp ủy và các chức danh lãnh đạo, quản lý là nữ ở cấp xã trong giai đoạn 2026–2030 phải đạt từ 25% trở lên.
Việc đặt tỷ lệ cho nguồn quy hoạch có ý nghĩa dài hạn hơn yêu cầu chỉ cần có một phụ nữ đang giữ chức vụ tại thời điểm xét công nhận. Nó buộc địa phương phải nhìn tới lớp cán bộ kế cận.
Theo các báo cáo được nêu tại cuộc gặp mặt đại diện nữ lãnh đạo, quản lý các cơ quan Trung ương tháng 3/2026, nữ giới hiện chiếm gần 27,4% cấp ủy viên cấp xã trên toàn quốc. Con số này không thể đem so trực tiếp với mức 25% trong quy hoạch vì hai chỉ số có mẫu số khác nhau, nhưng cho thấy đội ngũ cán bộ nữ ở cơ sở đã có một nền tảng để tiếp tục phát triển.
Một ví dụ từ hồ sơ rà soát thực tế cho thấy cách tiêu chí mới bắt đầu được chuyển thành con số tại địa phương. Trong kế hoạch xây dựng nông thôn mới năm 2026 của xã Quan Thành, Nghệ An, địa phương tự rà soát Ban Thường vụ Đảng ủy có 11 người, trong đó 3 cán bộ nữ; có hai nữ lãnh đạo xã và tỷ lệ nữ trong quy hoạch cấp ủy, chức danh lãnh đạo, quản lý giai đoạn 2026–2030 đạt 54,17%. Cùng hồ sơ này, phụ nữ chiếm 444 trong tổng số 1.109 lao động tham gia các mô hình phát triển kinh tế, tương đương 40%.
Cần phân biệt rõ: đây là kết quả tự rà soát trong kế hoạch của địa phương, không phải căn cứ để khẳng định xã đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Giá trị của ví dụ nằm ở chỗ các yêu cầu tưởng khá trừu tượng như “bình đẳng giới” đã được chuyển thành những dữ liệu mà một xã phải thống kê và chứng minh.
Nơi tạm lánh trở thành một phần của an sinh cấp xã
Tiêu chí 6.5 không chỉ nói về cơ hội kinh tế và lãnh đạo. Mỗi xã khi xét công nhận còn phải có ít nhất một nơi tạm lánh hỗ trợ người bị bạo lực trên cơ sở giới hoặc bạo lực gia đình. Địa điểm có thể được bố trí tại UBND xã, bệnh viện, trạm y tế xã hoặc một địa điểm phù hợp khác tại cộng đồng.
Yêu cầu cũng không dừng ở việc có một căn phòng mang tên “nơi tạm lánh”. Quyết định thành lập phải xác định người vận hành, địa điểm, đầu mối liên lạc trong trường hợp khẩn cấp, nhiệm vụ hỗ trợ tại chỗ và cơ chế kết nối, chuyển gửi người bị bạo lực tới các cơ quan liên quan. Điều này đặt sự an toàn của người dân vào cùng nhóm tiêu chí an sinh với giảm nghèo, nhà ở và nước sạch.
Cách tiếp cận đó còn được củng cố bởi Chương trình phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới giai đoạn 2026–2030 ban hành tháng 4/2026. Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% người bị bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện có thể tiếp cận ít nhất một dịch vụ hỗ trợ phù hợp và mỗi tỉnh, thành phố có ít nhất 5 nơi tạm lánh tại cộng đồng được chuẩn hóa.
Bên cạnh đó, xã phải có ít nhất 4 tin, bài về bình đẳng giới mỗi quý trên hệ thống thông tin cơ sở và lưu được lịch đăng, phát sóng. Yêu cầu cuối cùng là không có trường hợp tảo hôn, cưỡng ép kết hôn.
![]() |
| Các sản phẩm nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ của doanh nghiệp do phụ nữ khởi nghiệp được giới thiệu tại chương trình tổng kết Đề án hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp. Ảnh: VGP/Nhật Bắc. |
Ở những địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, yêu cầu này có thể bổ sung cho các chương trình đã triển khai nhiều năm nhằm thay đổi định kiến giới, phát triển sinh kế, tăng sự tham gia của phụ nữ và giải quyết tảo hôn, bạo lực gia đình. Phụ Nữ Mới từng ghi nhận những kết quả bước đầu của quá trình thúc đẩy bình đẳng giới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Tuy nhiên, chỉ tiêu “không có tảo hôn, cưỡng ép kết hôn” cũng cần một cách đánh giá thận trọng. Nếu thành tích của địa phương chỉ được hiểu là không ghi nhận trường hợp nào, có thể xuất hiện động cơ ngại phát hiện hoặc ngại báo cáo.
Một cơ chế tốt hơn là đối chiếu thông tin từ hộ tịch, trường học, y tế, hệ thống chính quyền cơ sở và các tổ chức cộng đồng; đồng thời coi việc phát hiện sớm, ngăn chặn và hỗ trợ người có nguy cơ là năng lực quản trị cần được ghi nhận, thay vì biến một vụ việc được phát hiện thành lý do khiến địa phương e ngại báo cáo.
Đạt tiêu chí chưa phải điểm kết thúc
Điểm tích cực của hướng dẫn mới là nhiều nội dung đều đòi hỏi hồ sơ minh chứng. Số phụ nữ tham gia mô hình kinh tế phải được thống kê theo từng mô hình. Cán bộ nữ và quy hoạch cán bộ nữ phải có văn bản chứng minh. Hoạt động truyền thông phải lưu nội dung và lịch phát. Nơi tạm lánh phải có quyết định thành lập, người vận hành, đầu mối khẩn cấp và nhiệm vụ cụ thể. Việc có dữ liệu và hồ sơ là điều kiện cần để bình đẳng giới không chỉ tồn tại dưới dạng khẩu hiệu.
Nhưng chính những con số này cũng có giới hạn. Một xã có một nữ lãnh đạo chưa cho biết tiếng nói của phụ nữ có ảnh hưởng tới những quyết định về ngân sách, quy hoạch đất đai hay phát triển kinh tế hay không. Tỷ lệ 40% phụ nữ trong mô hình sản xuất chưa cho biết họ nhận bao nhiêu phần thu nhập và ai kiểm soát nguồn lực. Một nơi tạm lánh có quyết định thành lập chưa đủ nếu người cần hỗ trợ không biết tìm tới đâu hoặc không thể tiếp cận an toàn.
Vì vậy, tiêu chí mới nên được xem là một mức sàn. Phụ Nữ Mới từng đặt vấn đề cần chuyển từ cách tiếp cận “đủ chỉ tiêu” sang bình đẳng giới thực chất. Với xây dựng nông thôn mới, điều đó có nghĩa sau khi kiểm tra đủ số lượng, cần tiếp tục đo kết quả mà phụ nữ và nam giới thực sự nhận được từ quá trình phát triển.
Chẳng hạn, ngoài tỷ lệ nữ tham gia mô hình kinh tế có thể theo dõi tỷ lệ phụ nữ làm quản lý, mức tăng thu nhập, khả năng tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường. Ngoài tỷ lệ nữ trong quy hoạch có thể theo dõi tỷ lệ thực tế được bổ nhiệm, bầu và phạm vi trách nhiệm họ đảm nhận. Với nơi tạm lánh, có thể đánh giá khả năng tiếp cận và kết nối dịch vụ nhưng phải bảo vệ tuyệt đối thông tin cá nhân của người bị bạo lực.
Một điểm cũng cần tránh là biến những tiêu chí về gia đình sạch, an toàn hay hoạt động cộng đồng thành thêm phần việc không lương mặc nhiên giao cho phụ nữ. Nông thôn mới là kết quả của cả cộng đồng; nam giới, gia đình, chính quyền và dịch vụ công đều phải chia sẻ trách nhiệm xây dựng môi trường sống an toàn, sạch và văn minh.
Giá trị lớn nhất của giai đoạn 2026–2030 vì thế không chỉ nằm ở việc nâng một tỷ lệ từ 30% lên 40%. Quan trọng hơn, bộ tiêu chí đang yêu cầu một xã khi nói mình phát triển phải nhìn đồng thời vào kinh tế, quyền tham gia, lãnh đạo và sự an toàn của người dân. Nếu các con số được theo dõi bằng dữ liệu thực chất thay vì chỉ hoàn thiện hồ sơ, bình đẳng giới có thể trở thành một phần của chất lượng phát triển nông thôn, thay vì một mục tiêu đứng bên cạnh quá trình ấy.





















Chính sách khuyến nông mới kết nối nữ trí thức với phụ nữ nông thôn
Tháo gỡ điểm nghẽn để tiến tới bình đẳng giới thực chất
Tạo đột phá trong thúc đẩy bình đẳng giới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Hội thảo tham vấn Dự án 8: Hoàn thiện giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới vùng DTTS giai đoạn 2026-2030
Cùng chuyên mục
Nông thôn mới nâng ngưỡng phụ nữ tham gia mô hình kinh tế
Tăng hỗ trợ để cô đỡ thôn bản thêm vững vàng ở vùng khó khăn
Phấn đấu có ít nhất 150 doanh nghiệp tiên phong do phụ nữ làm chủ
Cán bộ cấp xã kiêm nhiệm đặt bài toán mới cho bình đẳng giới
Hạ tuổi trợ cấp hưu trí có thể thu hẹp khoảng cách giới
Nhà trẻ cần trở thành hạ tầng thiết yếu của khu công nghiệp