![]() |
| Trẻ em tham gia hoạt động tại một lớp mầm non. Ảnh minh họa: Báo Điện tử Chính phủ. |
Một khu công nghiệp cần đường giao thông, điện, nước, nhà ở và phương tiện đưa đón người lao động. Nhưng nếu hàng nghìn công nhân bắt đầu ca làm trong khi không tìm được nơi gửi con nhỏ với mức phí và giờ hoạt động phù hợp, hạ tầng phục vụ sản xuất vẫn còn một khoảng trống.
Báo cáo Care for Growth – Making Industrial Jobs Work for Women do Ngân hàng Thế giới (World Bank) công bố năm 2026 đặt dịch vụ chăm sóc trẻ gần khu công nghiệp vào chính bài toán này. Báo cáo không coi nhà trẻ chỉ là một chính sách phúc lợi cho gia đình, mà xem khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc trẻ có liên quan trực tiếp tới việc phụ nữ có thể tham gia, duy trì và nâng chất lượng việc làm hay không.
Cách đặt vấn đề đặc biệt đáng chú ý với Việt Nam. Báo cáo dẫn số liệu cho thấy 431 khu công nghiệp sử dụng hơn 4 triệu lao động, khoảng 60% là phụ nữ; gần 560.000 trẻ dưới 6 tuổi là con của người lao động tại các khu công nghiệp. Các số liệu hành chính mà báo cáo sử dụng chủ yếu có trước đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, vì vậy nên được hiểu như thước đo quy mô của nhu cầu, không phải thống kê cập nhật đến tháng 8/2026.
Khoảng trống lớn nhất nằm ở trẻ dưới 3 tuổi
Điểm mạnh của nghiên cứu World Bank là không chỉ đếm trường lớp. Nhóm nghiên cứu khảo sát 1.809 người mẹ có con từ 3 tháng đến dưới 6 tuổi và 200 cơ sở chăm sóc trẻ tại Thái Nguyên, Đà Nẵng, TP.HCM và An Giang theo địa giới trước sắp xếp năm 2025. Mẫu được thiết kế đại diện cho các khu vực đô thị và khu công nghiệp tại bốn địa bàn khảo sát, chứ không đại diện cho toàn bộ Việt Nam. Ngoài khảo sát hộ gia đình và cơ sở cung cấp dịch vụ, nghiên cứu còn thực hiện 30 cuộc thảo luận nhóm với 198 bà mẹ và 28 ông bố. Khoảng trống hiện rõ nhất ở nhóm trẻ rất nhỏ.
Trong 491 người mẹ có con dưới 2 tuổi chưa sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ được cấp phép, 75% cho biết họ sẵn sàng sử dụng nếu có một cơ sở gần nơi ở, mức phí phù hợp, chất lượng tốt, giờ hoạt động thuận tiện và có khả năng chăm sóc trẻ dưới 2 tuổi. Tỷ lệ nhu cầu chưa được đáp ứng được nhóm nghiên cứu tính ở mức 83,6% đối với trẻ 3–12 tháng và 59,5% với trẻ 13–23 tháng.
Đây là khác biệt quan trọng. Việc trẻ chưa đi nhà trẻ không nhất thiết đồng nghĩa gia đình muốn tự chăm hoàn toàn ở nhà. Trong chính câu hỏi giả định đã loại bớt các rào cản về giá, chất lượng, khoảng cách và giờ hoạt động, ba phần tư số người mẹ được hỏi vẫn muốn sử dụng dịch vụ.
Nguồn cung giá phải chăng lại hạn chế ở đúng nhóm tuổi này. Trong mẫu 200 cơ sở tại bốn địa bàn nghiên cứu, chỉ 23% trường mầm non công lập nhận trẻ dưới 2 tuổi, so với 66% trường tư thục và 40% nhóm trẻ độc lập. Khoảng 11% trường công trong mẫu hoạt động vượt công suất trong năm học. Những tỷ lệ này không được phép suy rộng thành tỷ lệ quốc gia, nhưng chúng chỉ ra một nút thắt cụ thể cần tiếp tục đo lường khi triển khai chính sách.
![]() |
| Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam thăm nhóm lớp mầm non tư thục Bình An, phường Long Bình, Đồng Nai, tháng 12/2017. Ảnh: VGP/Đình Nam. |
Câu chuyện tại Đồng Nai từ năm 2017 cho thấy bài toán này không mới. Khi khảo sát các nhóm lớp mầm non ở phường Long Bình, cơ quan quản lý ghi nhận nhiều cơ sở tư thục nhận trẻ 6–24 tháng và có giờ đưa đón linh hoạt, kể cả giữ thêm vào thứ Bảy, Chủ nhật để đáp ứng công nhân làm theo ca. Nhưng nhu cầu lớn cũng đi cùng khó khăn quản lý, nhất là nguy cơ về chuyên môn và an toàn tại những cơ sở nhỏ hoặc chưa được cấp phép.
Bài toán vì vậy không thể giải bằng cách đơn giản tăng số điểm giữ trẻ. Chỗ gửi phải đồng thời có đủ ba điều kiện: "có thể tiếp cận, đủ khả năng chi trả và bảo đảm chất lượng."
Chi phí chăm trẻ đi thẳng vào cơ hội việc làm
*Trục giới của vấn đề xuất hiện ở đây.
Báo cáo World Bank ghi nhận khoảng một phần ba phụ nữ trong khảo sát hộ gia đình cho biết trách nhiệm chăm sóc trẻ từng khiến họ giảm giờ làm hoặc thu nhập, hoặc trong một số trường hợp mất việc. Báo cáo cũng dẫn Nghiên cứu Sử dụng Thời gian Việt Nam năm 2022: 45% phụ nữ tham gia hoạt động chăm sóc trong một ngày trung bình, so với 24% nam giới; với những người có tham gia, phụ nữ dành khoảng 3 giờ 15 phút mỗi ngày, còn nam giới khoảng một giờ.
Vì thế, thiếu nhà trẻ không tác động trung tính lên thị trường lao động. Cả cha và mẹ đều cần dịch vụ chăm sóc con, nhưng khi phần việc chăm sóc đang phân bổ không đều, chi phí của việc thiếu dịch vụ có khả năng rơi nhiều hơn vào thời gian làm việc và cơ hội nghề nghiệp của phụ nữ.
Điều này nối trực tiếp với câu chuyện lao động chăm sóc không lương: một giờ chăm con không biến mất khi thiếu dịch vụ công hoặc dịch vụ thị trường; nó được chuyển trở lại gia đình và ai dành nhiều thời gian hơn cho phần việc ấy sẽ chịu chi phí cơ hội lớn hơn.
Tuy nhiên, không nên diễn giải theo hướng nhà trẻ là một dịch vụ “để phụ nữ yên tâm đi làm”. Cách nói đó vô tình giữ nguyên giả định chăm con là trách nhiệm của người mẹ.
Hạ tầng chăm sóc trẻ phải phục vụ người lao động có con, đồng thời chính sách tại nơi làm việc cần tạo điều kiện để người cha chia sẻ việc đưa đón, chăm con ốm và các trách nhiệm gia đình. Bình đẳng giới không phải chuyển một phần việc của người mẹ sang nhà trẻ rồi để cấu trúc phân công trong gia đình đứng yên.
Nghiên cứu của World Bank còn sử dụng dữ liệu Điều tra Mức sống hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 2010–2018 để ước tính tác động của việc sinh con lên việc làm. Mô hình cho kết quả việc sinh con làm giảm 8,1 điểm phần trăm xác suất phụ nữ có việc làm hưởng lương. Đây là kết quả ước lượng kinh tế lượng từ dữ liệu lịch sử, không phải tỷ lệ phụ nữ mất việc sau sinh trong năm 2026 và cũng không nên được trình bày như một quan hệ giống nhau đối với mọi phụ nữ.
Ý nghĩa của con số nằm ở hướng cảnh báo: dịch vụ chăm sóc trẻ có thể là một trong những yếu tố quyết định liệu phụ nữ sau sinh có duy trì được mối liên hệ với thị trường lao động hay không.
Ở góc độ đó, mở rộng nhà trẻ cũng là một giải pháp cho khả năng tiếp cận việc làm của lao động nữ, nhưng khác với đào tạo kỹ năng hay kết nối tuyển dụng. Nó xử lý một rào cản nằm bên ngoài năng lực chuyên môn của người lao động.
Mục tiêu đã có, cần đo đúng phần còn thiếu
*Việt Nam đã có một khung chính sách mới khá rõ.
Ngày 14/10/2025, Quyết định 2270/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non ở địa bàn đô thị, khu công nghiệp giai đoạn 2025–2035, định hướng đến năm 2045”. Đến năm 2035, Chương trình đặt mục tiêu phấn đấu 100% trẻ từ 6 đến 36 tháng là con công nhân, người lao động tại địa bàn có khu công nghiệp và có nhu cầu được đến trường, lớp, tiếp cận dịch vụ mầm non chất lượng.
Chương trình đồng thời đặt mục tiêu tăng ít nhất 20% số nhóm trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non tại địa bàn có khu công nghiệp và tăng ít nhất 10% số trường mầm non công lập tổ chức nhóm trẻ dưới 24 tháng. Các cơ sở độc lập dân lập, tư thục phải đáp ứng tiêu chuẩn an toàn, phòng chống tai nạn thương tích.
Đây là một thay đổi đáng kể vì chính sách đã đi đúng vào nhóm tuổi mà nghiên cứu World Bank cho thấy nguồn cung đang thiếu mạnh.
Nhưng từ mục tiêu đến hiệu quả thực tế còn một bước quan trọng: đo đúng khả năng sử dụng dịch vụ, chứ không chỉ đếm số cơ sở được mở thêm.
Một địa phương có thể đạt chỉ tiêu tăng nhóm trẻ nhưng công nhân vẫn không sử dụng được nếu trường cách xa khu nhà trọ, hết chỗ cho trẻ 10 tháng tuổi, giờ đóng cửa sớm hơn giờ kết thúc ca, học phí vượt khả năng chi trả hoặc phụ huynh chưa tin tưởng về chất lượng.
Vì vậy, hệ thống theo dõi Chương trình có thể cần bổ sung các chỉ số cụ thể như số chỗ theo từng nhóm tuổi; số trẻ nằm trong danh sách chờ; khoảng cách từ khu ở công nhân đến cơ sở; mức phí so với thu nhập lao động; giờ mở cửa so với khung ca sản xuất; tỷ lệ cơ sở được cấp phép và đạt chuẩn an toàn.
Quyết định 2270 thực tế đã mở không gian cho cách tiếp cận này. Chương trình cho phép cung cấp dịch vụ hỗ trợ ngoài giờ tại trường công theo quy định, gắn với chính sách cho nhân sự làm ngoài giờ; đề cập mô hình hợp tác nhà nước với đơn vị ngoài công lập với mức học phí phù hợp thu nhập công nhân; đồng thời yêu cầu phát triển cơ sở mầm non trong các dự án nhà ở xã hội.
Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động cũng được khuyến khích đầu tư hoặc đóng góp kinh phí xây dựng cơ sở mầm non, hay hỗ trợ một phần chi phí gửi trẻ cho người lao động. Chương trình yêu cầu đưa mục tiêu giáo dục mầm non tại đô thị và khu công nghiệp vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và xây dựng cơ sở dữ liệu để theo dõi, đánh giá.
Điều còn cần làm rõ trong quá trình thực thi là trách nhiệm được phân bổ ra sao giữa ngân sách công, địa phương, doanh nghiệp và gia đình để tránh hai cực: hoặc nhà nước phải gánh toàn bộ chi phí, hoặc nhu cầu chăm sóc con của công nhân lại bị coi hoàn toàn là chuyện riêng của mỗi gia đình.
![]() |
| Thủ tướng Phạm Minh Chính khảo sát dự án Khu nhà ở cho công nhân và chuyên gia Khu công nghiệp Đông Mai, Quảng Ninh, tháng 2/2023. Ảnh: VGP/Nhật Bắc. |
Quy hoạch khu công nghiệp phải tính cả giờ chăm trẻ
Năm 2023, khi khảo sát dự án khu nhà ở cho công nhân và chuyên gia tại Khu công nghiệp Đông Mai, Quảng Ninh, Thủ tướng yêu cầu hạ tầng nhà ở phải đồng bộ cả điện, nước, y tế, giáo dục, tiện ích xã hội và cây xanh. Cách tiếp cận này cho thấy đời sống người lao động không thể được quy hoạch tách khỏi nơi sản xuất.
*Nhà trẻ cần được đặt trong chính logic hạ tầng đó.
Quy hoạch một khu công nghiệp mới mà chỉ tính diện tích nhà máy, giao thông và nhà ở, sau đó chờ nhu cầu giữ trẻ phát sinh mới xử lý sẽ làm chi phí xã hội xuất hiện muộn hơn nhưng không hề biến mất. Nó có thể chuyển thành thời gian đi lại dài hơn, phụ thuộc vào nhóm trẻ nhỏ lẻ, người thân phải nghỉ việc để chăm cháu hoặc một người cha, người mẹ buộc phải giảm giờ làm. Trong điều kiện phụ nữ đang chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động khu công nghiệp, hệ quả giới sẽ càng rõ.
Tuy vậy, chính sách không nên dựa vào một tỷ lệ nữ chung cho mọi khu công nghiệp. Mỗi địa bàn cần biết số người lao động có con theo nhóm tuổi, nơi họ cư trú, ca làm phổ biến, mức sẵn sàng chi trả và cơ cấu nam - nữ. Một khu điện tử với lao động trẻ làm theo ca có thể cần mô hình khác một khu công nghiệp có lực lượng lao động lớn tuổi hơn hoặc nơi phần lớn công nhân sống cùng gia đình nhiều thế hệ.
Tiếng nói của phụ huynh cũng phải đi vào khâu thiết kế. Một cơ sở có thể đạt chuẩn xây dựng nhưng không giải quyết được vấn đề nếu phụ huynh không yên tâm giao trẻ dưới một tuổi. Ngược lại, kéo dài giờ giữ trẻ mà không bố trí đủ nhân lực sẽ tạo thêm rủi ro chất lượng. Mục tiêu “phù hợp với giờ làm” và mục tiêu “an toàn, chất lượng” phải được xử lý cùng lúc, không đánh đổi cho nhau.
Với doanh nghiệp, khoản đóng góp vào nhà trẻ cũng không nên chỉ được nhìn như hoạt động trách nhiệm xã hội. Nếu dịch vụ chăm sóc trẻ giúp giảm nghỉ việc, vắng mặt hoặc gián đoạn lao động, doanh nghiệp có lợi ích kinh tế trực tiếp trong việc tham gia giải quyết bài toán này. Điều cần đánh giá bằng dữ liệu là mức đầu tư nào tạo ra hiệu quả và mô hình nào không đẩy toàn bộ chi phí trở lại người lao động. Với chính sách bình đẳng giới, phép đo cuối cùng cũng không phải số nhà trẻ mang nhãn “hỗ trợ phụ nữ”.
Cần biết sau khi dịch vụ được mở rộng, tỷ lệ các bà mẹ quay trở lại việc làm có thay đổi không; tỷ lệ bỏ việc sau sinh có giảm không; thu nhập và khả năng giữ việc của nữ và nam lao động có thu hẹp khoảng cách không; người cha có tham gia trách nhiệm chăm sóc nhiều hơn không.
Đó cũng là điểm phân biệt đề tài này với câu chuyện tăng sinh. Chính sách dân số cần tính đúng giá trị việc chăm sóc, nhưng nhà trẻ quanh khu công nghiệp còn có một chức năng khác: bảo vệ khả năng tiếp tục làm việc của những người đã có con, bất kể họ có dự định sinh thêm hay không.
World Bank gọi chăm sóc trẻ là một dạng hạ tầng kinh tế. Với khu công nghiệp Việt Nam, cách nhìn ấy có giá trị thực tiễn: dây chuyền sản xuất cần điện để vận hành, nhưng người lao động cũng cần một hệ thống xã hội đủ ổn định để họ có thể bước vào ca làm và tiếp tục gắn bó với công việc.
Quyết định 2270 đã đặt mục tiêu cho nhóm trẻ 6–36 tháng. Công việc tiếp theo không chỉ là xây thêm bao nhiêu trường lớp, mà phải trả lời được một câu cụ thể hơn: người công nhân có thực sự gửi được con ở một nơi an toàn, đủ khả năng chi trả và phù hợp với giờ làm hay không. Nếu câu trả lời vẫn là không, hạ tầng khu công nghiệp vẫn chưa hoàn chỉnh.




















Lao động chăm sóc không lương: Gánh nặng vô hình của phụ nữ
Muốn phụ nữ sinh con, chính sách phải tính đến việc chăm sóc
Nâng cao khả năng tiếp cận việc làm của lao động nữ trong bối cảnh chuyển đổi số
TP.HCM triển khai loạt chính sách tăng sinh: Hỗ trợ tài chính, chăm sóc y tế và nuôi dạy trẻ
Cùng chuyên mục
Hạ tuổi trợ cấp hưu trí có thể thu hẹp khoảng cách giới
Nhà trẻ cần trở thành hạ tầng thiết yếu của khu công nghiệp
Phụ nữ khó bước vào việc làm xanh hơn nam giới ở Việt Nam
Ưu đãi nhà thầu có lao động nữ cần được đo trước khi sửa luật
Hỗ trợ pháp lý cần đến đúng doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ
Đăng ký kinh doanh đơn giản hơn mở thêm đường cho phụ nữ