![]() |
| Lao động nữ tham gia nhiều lĩnh vực sản xuất tại Việt Nam. Tiêu chí việc làm trong đấu thầu chỉ có ý nghĩa khi được đánh giá cùng tính ổn định và chất lượng công việc. Ảnh: Quang Nguyen Vinh/Pexels. |
Một doanh nghiệp tuyển thêm phụ nữ có thể không nhận ngay điểm cộng trong mọi cuộc đấu thầu. Nhưng khi nhiều nhà thầu được đánh giá tốt nhất và ngang nhau, số lao động nữ của doanh nghiệp có thể trở thành một căn cứ để lựa chọn bên trúng thầu.
Đây là một chi tiết đáng chú ý trong chính sách đấu thầu hiện hành bởi nó cho thấy mua sắm công không chỉ nhằm tìm hàng hóa, dịch vụ hay công trình phù hợp. Cách thiết kế tiêu chí lựa chọn nhà thầu còn có thể tạo động lực đối với thị trường lao động.
Nghị định 214/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 4/8/2025, quy định trong trường hợp nhiều nhà thầu được đánh giá tốt nhất và ngang nhau, việc xử lý được thực hiện lần lượt theo một chuỗi tiêu chí. Trong chuỗi đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ được xếp ở vị trí ưu tiên đầu tiên nếu có; ở một bước tiếp theo, nhà thầu sử dụng nhiều lao động nữ hơn cũng có lợi thế, với điều kiện những lao động này có hợp đồng từ ba tháng trở lên và hợp đồng vẫn còn hiệu lực tại thời điểm đóng thầu.
Điểm đáng bàn không phải phụ nữ đã có một “suất thắng thầu”. Pháp luật không quy định như vậy. Vấn đề là tiêu chí giới đã được đưa vào một khâu có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định kinh tế, và hiệu quả của nó cần được đo trước thời điểm Luật Đấu thầu tiếp tục được sửa đổi.
Từ ngưỡng 25% sang cách tính rộng hơn
Luật Đấu thầu năm 2023 ban đầu quy định nhà thầu phải có từ 25% lao động nữ trở lên mới thuộc nhóm được hưởng ưu đãi theo tiêu chí này. Luật 90/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, đã bỏ ngưỡng tỷ lệ cố định, chuyển thành quy định nhà thầu có sử dụng lao động nữ, thương binh, người khuyết tật hoặc người dân tộc thiểu số thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi.
Sự thay đổi này có ý nghĩa về cách thiết kế chính sách. Một ngưỡng 25% tạo ranh giới rất rõ: doanh nghiệp ở mức 24% và doanh nghiệp ở mức 25% có thể rơi vào hai trạng thái pháp lý khác nhau dù chênh lệch thực tế rất nhỏ. Bỏ ngưỡng cứng giúp chính sách bao quát hơn, nhưng đồng thời đặt ra câu hỏi mới: lợi thế dành cho nhà thầu có lao động nữ sẽ được lượng hóa và kiểm chứng như thế nào trong từng tình huống lựa chọn?
Nghị định 214 đưa ra một câu trả lời cụ thể trong tình huống các nhà thầu ngang nhau. Sau các bước ưu tiên trước đó, nếu vẫn chưa lựa chọn được bên trúng thầu, doanh nghiệp sử dụng số lao động nữ có hợp đồng đủ điều kiện nhiều hơn được xếp trước.
![]() |
| Một lao động nữ làm việc tại cơ sở sản xuất ở Việt Nam. Số lượng lao động có thể là một căn cứ ưu tiên trong một số tình huống lựa chọn nhà thầu hiện hành. Ảnh: Tran Le Tuan/Pexels. |
Ở đây cần phân biệt hai chính sách thường dễ bị nhập làm một.
Một là ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ. Hai là ưu tiên dựa trên số lao động nữ mà nhà thầu sử dụng. Một doanh nghiệp do nam giới làm chủ nhưng tạo nhiều việc làm chính thức cho phụ nữ vẫn có thể liên quan đến tiêu chí thứ hai; ngược lại, một doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ được xem xét theo tiêu chí riêng của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ.
Phân biệt này quan trọng vì hai chính sách nhắm tới hai kết quả khác nhau: một bên mở cơ hội thị trường cho doanh nghiệp do phụ nữ sở hữu hoặc lãnh đạo theo điều kiện pháp luật; bên kia tạo động lực để doanh nghiệp sử dụng lao động nữ.
Phụ Nữ Mới từng phản ánh đề xuất mở rộng cơ hội mua sắm công cho doanh nghiệp do phụ nữ lãnh đạo. Quy định hiện hành về lao động nữ cho thấy chính sách đấu thầu còn có một hướng tác động khác, đi trực tiếp vào cấu trúc việc làm bên trong doanh nghiệp.
Có thêm việc làm chưa chắc đã có việc làm tốt hơn
Việc đưa số lao động nữ vào lựa chọn nhà thầu tạo ra một tín hiệu kinh tế tương đối rõ: trong một số tình huống cạnh tranh sát nhau, cơ cấu lao động của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh.
Tín hiệu đó đáng ghi nhận, nhưng nếu chỉ đếm đầu người thì tác động giới vẫn chưa được phản ánh đầy đủ.
Một doanh nghiệp có 300 lao động nữ trong tổng số 3.000 nhân sự và một doanh nghiệp có 100 lao động nữ trong tổng số 150 nhân sự tạo ra hai cấu trúc việc làm rất khác nhau. Nếu chỉ sử dụng số tuyệt đối, doanh nghiệp lớn có thể có lợi thế. Nếu chỉ sử dụng tỷ lệ, doanh nghiệp nhỏ lại có thể đạt tỷ lệ cao dù số việc làm tạo ra không nhiều. Không có một chỉ số duy nhất giải quyết hoàn hảo cả hai mục tiêu.
Đây là điểm chính sách cần được đánh giá bằng dữ liệu thực tế thay vì mặc định rằng càng nhiều lao động nữ là bình đẳng giới càng cao.
Số lao động nữ cũng chưa cho biết họ đang làm công việc nào, thu nhập ra sao, có hợp đồng ổn định hay không, được đào tạo và thăng tiến thế nào hoặc tập trung chủ yếu ở những vị trí có giá trị thấp. Chính Nghị định 214 đã đặt ra yêu cầu tối thiểu về hợp đồng từ ba tháng trở lên đối với tiêu chí xử lý trường hợp ngang nhau, qua đó tránh việc chỉ tính những lao động xuất hiện rất ngắn hạn tại thời điểm dự thầu.
Nhưng ba tháng vẫn chỉ là điều kiện pháp lý để xác định lao động được tính vào tiêu chí, không phải thước đo đầy đủ về chất lượng việc làm.
![]() |
| Bình đẳng trong việc làm không chỉ được phản ánh bằng số lao động nữ mà còn ở vị trí công việc, tính ổn định và cơ hội phát triển. Ảnh: coworkingspace Replus/Pexels. |
Nếu mục tiêu dài hạn là dùng sức mua của khu vực công để hỗ trợ bình đẳng giới, dữ liệu nên đi xa hơn số phụ nữ có tên trong danh sách lao động. Có thể theo dõi thời gian làm việc thực tế sau khi doanh nghiệp trúng thầu, loại hợp đồng, nhóm nghề, cấp bậc công việc và khả năng duy trì việc làm trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng.
Điều này cũng giúp tránh một hệ quả không mong muốn: doanh nghiệp có động lực tăng số lao động nữ để đạt lợi thế về hồ sơ nhưng phụ nữ vẫn chủ yếu tập trung ở công việc lương thấp, ít cơ hội phát triển.
Câu chuyện ấy nối trực tiếp với vấn đề chất lượng việc làm của lao động nữ. Có mặt trong lực lượng lao động là một bước; được tham gia vào những vị trí ổn định, an toàn và có cơ hội phát triển mới là phần quyết định chất lượng của bình đẳng kinh tế.
Đấu thầu bền vững cần dữ liệu giới
Nghị định 214 định nghĩa đấu thầu bền vững là việc lồng ghép ba yếu tố môi trường, xã hội và kinh tế vào quá trình lựa chọn nhà thầu, từ lập kế hoạch, hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ cho tới ký kết và quản lý hợp đồng.
Yếu tố giới vì vậy không nhất thiết chỉ xuất hiện ở phút cuối khi hai nhà thầu ngang nhau.
Ngay ở giai đoạn phân tích và tham vấn thị trường, Nghị định cũng cho phép xem xét khả năng tham dự của những nhà thầu tiềm năng, trong đó có doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, cùng doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và các nhóm sử dụng lao động đặc thù khác.
Đây là khoảng không chính sách đáng khai thác hơn.
Nếu chủ đầu tư biết trước một thị trường có nhiều doanh nghiệp sử dụng lao động nữ nhưng hồ sơ mời thầu vô tình đặt ra điều kiện khiến phần lớn doanh nghiệp này khó tham gia, việc tham vấn thị trường có thể giúp nhận diện rào cản. Ngược lại, không nên hạ tiêu chuẩn năng lực hay chất lượng chỉ để tăng số nhà thầu thuộc một nhóm ưu tiên. Bình đẳng giới trong đấu thầu phải đi cùng cạnh tranh, hiệu quả và trách nhiệm sử dụng ngân sách.
Phụ Nữ Mới đã từng đặt vấn đề về tiếng nói phụ nữ trong quá trình đấu thầu và giám sát dịch vụ công. Góc nhìn hiện nay bổ sung một tầng khác: phụ nữ không chỉ là người sử dụng hoặc giám sát kết quả mua sắm công, mà còn là người lao động có thể chịu tác động từ chính tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp.
Điều còn thiếu hiện nay là một bức tranh công khai cho thấy tiêu chí lao động nữ đã thực sự được sử dụng bao nhiêu lần, trong những loại gói thầu nào và sau khi doanh nghiệp trúng thầu, việc làm của phụ nữ thay đổi ra sao.
Không nên suy đoán rằng quy định đã tạo nhiều việc làm nếu chưa có dữ liệu chứng minh. Nhưng cũng không nên xem đây là một chi tiết kỹ thuật nhỏ, bởi một tiêu chí nằm trong quy trình chi tiêu công có khả năng tạo tín hiệu cho hàng nghìn quyết định tuyển dụng của doanh nghiệp nếu được áp dụng đủ rộng và nhất quán.
Sửa luật là lúc kiểm tra chính sách đã chạy đến đâu
Ngày 6/8/2026, Bộ Tài chính công bố việc xây dựng dự thảo Luật Đấu thầu sửa đổi toàn diện. Dự thảo đang xem xét nhiều nội dung, trong đó có chính sách ưu tiên, ưu đãi trong đấu thầu.
Điều đó làm cho việc đánh giá các ưu đãi giới hiện hành trở nên cần thiết hơn.
Trước khi quyết định giữ, sửa hay thiết kế lại một tiêu chí, cơ quan xây dựng chính sách cần biết nó đã được sử dụng như thế nào. Ít nhất có thể công bố số gói thầu phát sinh trường hợp nhiều nhà thầu ngang nhau; số trường hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ được ưu tiên; số trường hợp tiêu chí lao động nữ trở thành căn cứ quyết định; ngành nghề, địa phương và quy mô hợp đồng tương ứng.
Nếu dữ liệu cho thấy tiêu chí hầu như không bao giờ được kích hoạt, cần xem nguyên nhân nằm ở thiết kế quá hẹp hay đơn giản vì tình huống ngang nhau ít xảy ra. Nếu được sử dụng thường xuyên, cần đánh giá liệu doanh nghiệp có duy trì số việc làm nữ sau khi trúng thầu hay không.
Đây chính là khoảng cách giữa quyền và cơ chế thực thi mà bài viết về quyền của phụ nữ trong thực tế từng đặt ra: quy định tồn tại trên giấy chưa đủ để kết luận rằng kết quả bình đẳng đã xuất hiện.
Một bước tiếp theo có thể là gắn dữ liệu giới vào chính Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia ở mức phù hợp: không công khai dữ liệu cá nhân của người lao động, nhưng có thể tổng hợp những chỉ số cần thiết để đánh giá chính sách.
Khi đó, câu hỏi sẽ không còn dừng ở “pháp luật có ưu tiên lao động nữ hay không”, mà chuyển thành những câu hỏi kiểm chứng được: ưu đãi đã xuất hiện trong bao nhiêu quyết định lựa chọn nhà thầu, tạo hoặc duy trì bao nhiêu việc làm, phụ nữ làm ở những nhóm nghề nào và chính sách có làm tăng chi phí hay giảm cạnh tranh hay không.
Luật Đấu thầu đang đứng trước một vòng sửa đổi mới. Đây cũng là thời điểm thích hợp để xem lại tiêu chí giới bằng dữ liệu thay vì bằng kỳ vọng. Giữ một ưu đãi không tạo ra tác động thực tế sẽ ít ý nghĩa; bỏ một công cụ đang tạo việc làm mà chưa đánh giá đầy đủ cũng có thể là một cơ hội bị bỏ qua.
Mua sắm công chỉ trở thành đòn bẩy cho bình đẳng giới khi Nhà nước biết chính xác mỗi thiết kế ưu đãi đang thay đổi hành vi của doanh nghiệp ra sao. Đó là dữ liệu cần có trước khi viết lại luật.





















Số hóa đấu thầu: Điều kiện cần, tiếng nói phụ nữ mới là điều kiện đủ.
Bà Lê Hồng Thuỷ Tiên -"Bình đẳng không phải gánh nặng của doanh nghiệp
140 năm Ngày Quốc tế Lao động: Khi quyền của phụ nữ cần được “kích hoạt” trong thực tế
Nâng cao chất lượng lao động nữ: Động lực mới cho tăng trưởng kinh tế
Cùng chuyên mục
Phụ nữ khó bước vào việc làm xanh hơn nam giới ở Việt Nam
Ưu đãi nhà thầu có lao động nữ cần được đo trước khi sửa luật
Hỗ trợ pháp lý cần đến đúng doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ
Đăng ký kinh doanh đơn giản hơn mở thêm đường cho phụ nữ
Nhà vệ sinh công cộng phải thuận tiện và an toàn cho phụ nữ
Nữ thanh niên cần gì khi rời trường mà chưa có việc?