![]() |
| Bà Trịnh Thị Hương, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính, trình bày tham luận tại phiên thảo luận về vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế ngày 17/6/2026. Ảnh: VGP/Vũ Phong. |
Chuyển đổi xanh thường được nhìn qua số dự án năng lượng sạch, công nghệ mới hay lượng việc làm có thể được tạo ra. Nhưng với thị trường lao động, còn một câu hỏi khó hơn: những người đang làm công việc hiện tại có cơ hội bước sang công việc xanh hay không, và cơ hội ấy có giống nhau giữa phụ nữ và nam giới?
Một nghiên cứu của Anil Duman và Sévane Ananian đăng trên International Labour Review năm 2026 cung cấp một lát cắt đáng chú ý từ Việt Nam. Thay vì chỉ đếm số người đang có việc làm xanh, nghiên cứu sử dụng dữ liệu Điều tra Lao động - Việc làm để theo dõi sự dịch chuyển của người lao động qua năm quý, trong giai đoạn 2021–2022. Kết quả cho thấy phụ nữ gặp bất lợi rõ ở cả khả năng chuyển vào và duy trì việc làm xanh.
Cần lưu ý giới hạn của bộ dữ liệu. Nghiên cứu được công bố năm 2026 nhưng quan sát thị trường lao động giai đoạn 2021–2022, thời kỳ còn chịu ảnh hưởng của COVID-19. Vì vậy, các tỷ lệ dưới đây không thể được coi là ảnh chụp hiện trạng lao động Việt Nam năm 2026. Giá trị của chúng nằm ở việc lần theo đường dịch chuyển của cùng nhóm lao động để nhận diện những khoảng cách mà số liệu tổng hợp tại một thời điểm khó cho thấy.
Khoảng cách xuất hiện ngay trên đường chuyển việc
Nhóm tác giả phân loại nghề nghiệp dựa trên các nhiệm vụ của công việc thành ba nhóm: xanh, nâu và trung tính. Theo cách phân loại này, việc làm xanh chiếm khoảng 15% tổng số việc làm được nghiên cứu. Đây là ước tính theo phương pháp của nghiên cứu, không phải tỷ lệ việc làm xanh chính thức của Việt Nam.
Cơ cấu giới đã cho thấy một chênh lệch lớn. Phụ nữ chiếm 22,83% lao động trong nhóm việc làm xanh, trong khi tỷ lệ của họ ở nhóm việc làm trung tính là 53,87%. Nam giới chiếm 77,17% lao động trong nhóm việc làm xanh. Nhưng phát hiện đáng quan tâm hơn nằm ở sự dịch chuyển.
Trong khoảng thời gian theo dõi 15 tháng, 10,1% nam giới đang ở việc làm nâu chuyển sang việc làm xanh, trong khi tỷ lệ ở phụ nữ chỉ là 2,8%. Từ nhóm việc làm trung tính sang việc làm xanh, tỷ lệ tương ứng là 8,3% ở nam giới và 3,8% ở phụ nữ.
Khoảng cách không dừng ở cửa vào. Trong những người đã có việc làm xanh, 68% nam giới vẫn ở nhóm việc làm xanh sau thời gian theo dõi, so với 53,3% phụ nữ. Nghiên cứu cũng ghi nhận phụ nữ có xu hướng rời lực lượng lao động nhiều hơn nam giới ở các nhóm nghề khác nhau. Nhóm tác giả cho rằng điều này có thể liên quan đến những rào cản tại nơi làm việc, sự phân tầng nghề nghiệp theo giới và khó khăn trong việc dung hòa công việc với các trách nhiệm khác. Đây là những khả năng giải thích được nghiên cứu nêu ra, không phải quan hệ nhân quả đã được chứng minh cho từng trường hợp.
![]() |
| Nữ cán bộ, công nhân viên EVN trong hoạt động chuyên môn. Ảnh minh họa lao động nữ ở vị trí kỹ thuật, không phải người tham gia nghiên cứu ILO. Nguồn: EVN. |
Những con số này làm thay đổi cách đặt vấn đề. Nếu chỉ hỏi phụ nữ chiếm bao nhiêu phần trăm trong các ngành xanh, chính sách mới nhìn thấy kết quả cuối cùng. Theo dõi họ chuyển từ đâu tới, ai vào được, ai rời đi và ở lại bao lâu mới giúp nhận diện nơi khoảng cách thực sự hình thành.
Một lát cắt theo ngành về phụ nữ trong ngành năng lượng Việt Nam cũng cho thấy tỷ lệ hiện diện chung chưa đủ phản ánh vị trí nghề nghiệp, bởi câu hỏi còn phải đi tới nhóm việc kỹ thuật, vận hành, lãnh đạo và khả năng gắn bó lâu dài.
Việc làm xanh chưa chắc đã là việc làm tốt
Có thêm việc làm xanh là cần thiết, nhưng “xanh” mô tả đặc tính môi trường của công việc chứ không tự động bảo đảm chất lượng việc làm.
Trong dữ liệu của nghiên cứu, thu nhập bình quân tháng của nhóm việc làm xanh khoảng 8,24 triệu đồng, cao hơn nhóm việc làm nâu khoảng 7,20 triệu đồng và nhóm trung tính khoảng 6,49 triệu đồng. Tuy nhiên, theo cách xác định khu vực phi chính thức mà nhóm tác giả sử dụng, 74% việc làm xanh nằm trong khu vực phi chính thức và 69,51% lao động xanh không có bảo hiểm xã hội.
Điều đó đặt ra một cảnh báo cho chính sách bình đẳng giới. Tăng tỷ lệ phụ nữ trong việc làm xanh chưa đủ nếu phần tăng thêm chủ yếu nằm ở các công việc thiếu bảo vệ xã hội, thu nhập thấp, khó thăng tiến hoặc dễ bị đẩy ra khỏi thị trường lao động.
Chính nghiên cứu cũng cho thấy giáo dục tạo ra khác biệt lớn. Người có trình độ giáo dục đại học trở lên có khả năng dịch chuyển sang nghề xanh cao hơn. Bảo hiểm xã hội có mối liên hệ tích cực với khả năng chuyển từ việc làm nâu hoặc trung tính sang việc làm xanh ở nhóm có trình độ đại học, nhưng tác động tương tự không xuất hiện rõ ở nhóm có trình độ thấp hơn.
Điều này cho thấy một chương trình đào tạo kỹ năng xanh nếu chỉ mở lớp và chờ người lao động đăng ký có thể vô tình ưu tiên những người vốn đã có lợi thế: học vấn cao hơn, việc làm ổn định hơn, có thông tin tốt hơn và có khả năng dành thời gian để học.
Với phụ nữ ở những nhóm có trình độ thấp, việc làm phi chính thức hoặc phải dành nhiều thời gian cho chăm sóc gia đình, rào cản có thể xuất hiện trước cả khi khóa đào tạo bắt đầu. Chính sách vì vậy cần kiểm chứng xem người lao động không tham gia vì thiếu kỹ năng, thiếu thông tin, lịch học không phù hợp, chi phí cơ hội quá lớn hay vì công việc sau đào tạo vẫn không đủ hấp dẫn. Không nên mặc định nguyên nhân trước khi có dữ liệu.
Đào tạo phải đo được người học đã đi tới đâu
Năm 2026 tạo ra một cửa sổ chính sách đáng chú ý. Nghị định 138/2026/NĐ-CP về phát triển kỹ năng nghề đặt yêu cầu đào tạo, nâng cao trình độ phải gắn với nhu cầu thị trường lao động, bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các chủ thể liên quan.
Tiếp đó, Nghị định 308/2026/NĐ-CP ngày 5/8/2026 về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia giáo dục nghề nghiệp khuyến khích doanh nghiệp hợp tác với cơ sở đào tạo trong phát triển kỹ năng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và đào tạo lại lao động để thích ứng với yêu cầu mới.
Đây là bước tiến quan trọng về khung chính sách. Vấn đề tiếp theo là đo hiệu quả theo cách nào. Nếu một chương trình kỹ năng xanh chỉ báo cáo đã đào tạo 10.000 người, trong đó bao nhiêu phần trăm là phụ nữ, chúng ta mới biết ai bước vào lớp học. Chính sách còn cần biết sau 6 tháng hoặc 12 tháng có bao nhiêu người thực sự chuyển sang nghề xanh; mức lương thay đổi ra sao; bao nhiêu người có bảo hiểm xã hội; bao nhiêu người tiếp tục ở lại; và khoảng cách giữa nữ với nam thay đổi thế nào.
Các chỉ số này cũng cần được tách tiếp theo trình độ học vấn, tuổi, khu vực thành thị - nông thôn và loại hình việc làm. Nếu chỉ lấy một tỷ lệ nữ chung, khoảng cách của nhóm phụ nữ có trình độ thấp hoặc làm việc phi chính thức rất dễ bị che khuất.
Những sáng kiến về kỹ năng cho chuyển đổi xanh và số đã đặt phụ nữ vào nhóm cần được nâng cao năng lực để tham gia nền kinh tế mới. Bước khó hơn là nối đào tạo với một vị trí việc làm cụ thể và theo dõi xem người học có trụ được với nghề sau đó hay không.
![]() |
| Sinh viên Trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp tham gia chương trình đào tạo chất lượng cao. Ảnh minh họa vai trò của đào tạo nghề trong quá trình chuyển đổi kỹ năng. Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ. |
Một chính sách chuyển đổi công bằng cũng cần kết hợp đào tạo với các công cụ bảo vệ trong giai đoạn chuyển nghề. Người lao động phải bỏ công việc hiện tại để học nghề mới có thể cần hỗ trợ thu nhập tạm thời, tư vấn nghề nghiệp, kết nối doanh nghiệp hoặc hình thức đào tạo linh hoạt. Với lao động đang có trách nhiệm chăm sóc gia đình, thời gian và địa điểm đào tạo cũng có thể quyết định họ có tham gia được hay không.
Điều quan trọng là những giải pháp này phải được thiết kế dựa trên bằng chứng và ý kiến của người sử dụng. Phụ nữ đang làm trong các nghề trung tính, nghề có nguy cơ thu hẹp hoặc công việc phi chính thức cần được tham gia vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo, thử nghiệm lịch học, đánh giá tiêu chí tuyển sinh và phản hồi về điều kiện làm việc sau đào tạo. Nếu chỉ có cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo quyết định người lao động “cần gì”, chính sách có thể giải đúng bài toán kỹ năng nhưng sai bài toán tiếp cận.
Bộ chỉ tiêu cần nhìn được cả người chuyển vào và rời đi
Tháng 3/2026, Việt Nam công bố kết quả xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê việc làm xanh với sự phối hợp của Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Cục Thống kê và hỗ trợ của Chính phủ Đan Mạch. Bộ chỉ tiêu nhằm giúp nhận diện việc làm, kỹ năng và những nhóm chịu tác động trong quá trình chuyển đổi xanh, tạo cơ sở cho hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu.
Việc hình thành Bộ Chỉ tiêu Thống kê về Việc làm Xanh là một nền tảng quan trọng.
Nhưng bài toán giới cho thấy thống kê cần đi xa hơn việc đếm tổng số việc làm xanh hay tỷ lệ nam - nữ tại một thời điểm. Khi bộ chỉ tiêu tiếp tục được hoàn thiện và đưa vào sử dụng, một lớp dữ liệu đáng xem xét là “dòng dịch chuyển”: bao nhiêu phụ nữ và nam giới chuyển từ nghề nâu sang nghề xanh; từ nghề trung tính sang nghề xanh; bao nhiêu người rời việc làm xanh; bao nhiêu người rời hẳn lực lượng lao động. Kèm theo đó là thu nhập, bảo hiểm xã hội, hình thức việc làm và thời gian duy trì công việc.
Đây không phải yêu cầu tạo ra một tỷ lệ nam - nữ giống nhau ở mọi ngành nghề. Nếu lựa chọn nghề nghiệp tự do dẫn đến sự khác biệt, chính sách không cần ép các con số trở nên cân bằng bằng mệnh lệnh hành chính.
Điều cần loại bỏ là trường hợp cơ hội chuyển đổi bị thu hẹp bởi những rào cản có thể xử lý: thiếu cơ hội đào tạo, tiêu chí tuyển dụng không cần thiết, định kiến về nghề kỹ thuật, điều kiện làm việc không phù hợp, thiếu bảo vệ xã hội hoặc một chương trình chuyển nghề chỉ phù hợp với người đã có nhiều lợi thế.
Nghiên cứu năm 2026 không đủ để khẳng định mọi nguyên nhân khiến phụ nữ có tỷ lệ chuyển vào việc làm xanh thấp hơn. Nhưng nó chỉ ra rất rõ nơi chính sách cần đặt câu hỏi.
Nếu nền kinh tế tạo thêm hàng trăm nghìn công việc xanh nhưng phần lớn cơ hội mới tiếp tục chảy tới những người đã có trình độ, kỹ năng và vị trí thuận lợi, quá trình chuyển đổi có thể xanh hơn về môi trường mà chưa chắc công bằng hơn về xã hội.
Một chuyển đổi xanh có tính đến giới vì thế không thể dừng ở câu hỏi “có bao nhiêu phụ nữ đang làm việc xanh”. Cần biết họ có cơ hội học kỹ năng mới như nam giới hay không, có chuyển được sang nghề mới hay không, có được bảo vệ khi chuyển nghề hay không và có đủ điều kiện để ở lại. Đó mới là phép đo thực chất của một quá trình chuyển đổi công bằng.




















20,2% lao động ngành năng lượng là nữ: Họ đang đứng ở đâu?
UN Women ra mắt Học viện EmPower về kỹ năng cho chuyển đổi xanh và số
Nâng cao khả năng tiếp cận việc làm của lao động nữ trong bối cảnh chuyển đổi số
Cùng chuyên mục
Phụ nữ khó bước vào việc làm xanh hơn nam giới ở Việt Nam
Ưu đãi nhà thầu có lao động nữ cần được đo trước khi sửa luật
Hỗ trợ pháp lý cần đến đúng doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ
Đăng ký kinh doanh đơn giản hơn mở thêm đường cho phụ nữ
Nhà vệ sinh công cộng phải thuận tiện và an toàn cho phụ nữ
Nữ thanh niên cần gì khi rời trường mà chưa có việc?