![]() |
| Cô đỡ thôn bản Khoàng Thị Đem, bản Nà Cang, xã Chà Nưa, huyện Nậm Pồ, tư vấn và kiểm tra sức khỏe cho thai phụ tại nhà. Ảnh: Anh Nguyễn. |
Từ ngày 15/7/2026, cô đỡ thôn, bản thuộc phạm vi quy định của Nghị định 192/2026/NĐ-CP được hưởng mức hỗ trợ hằng tháng bằng 0,5 hoặc 0,7 lần mức lương cơ sở. Chính sách áp dụng đối với lực lượng làm công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo.
Với mức lương cơ sở 2,53 triệu đồng/tháng được áp dụng từ ngày 1/7/2026, hai mức hỗ trợ tương ứng hiện nay là 1,265 triệu đồng và 1,771 triệu đồng mỗi tháng. Đây là khoản hỗ trợ hằng tháng theo quy định, không phải mức lương của cô đỡ thôn, bản.
Điểm mới không chỉ nằm ở việc nâng hệ số. Nghị định còn trao cho địa phương quyền xác định số lượng người cần bố trí và mức hỗ trợ cụ thể phù hợp điều kiện thực tế, với yêu cầu mức được quyết định không thấp hơn sàn do Chính phủ quy định. Điều đó mở thêm dư địa để những nơi có địa bàn rộng, giao thông khó khăn hoặc nhu cầu chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em lớn chủ động đầu tư cho lực lượng tại chỗ.
Mức hỗ trợ tối thiểu đã được nâng lên
Theo Nghị định 192/2026/NĐ-CP, mức 0,7 lần lương cơ sở áp dụng với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản làm việc tại thôn có từ 350 hộ gia đình trở lên, thôn bản thuộc xã vùng khó khăn theo quy định của Chính phủ và một số địa bàn có quy mô dân cư lớn. Mức 0,5 lần được áp dụng cho các địa bàn còn lại.
Trước đó, Quyết định 75/2009/QĐ-TTg quy định hai hệ số 0,5 và 0,3 lần mức lương làm căn cứ. Khi xây dựng chính sách thay thế, Bộ Y tế đánh giá các mức này không còn đủ sức khuyến khích lực lượng y tế thôn bản duy trì hoạt động và đã đề xuất nâng lên 0,7 và 0,5. Đề xuất ấy nay đã được thể chế hóa trong Nghị định mới.
Nếu chỉ nhìn vào số tiền, mức hỗ trợ mới vẫn khó có thể được xem là nguồn thu nhập chính cho một người lao động. Nhưng ý nghĩa chính sách nằm ở chỗ Nhà nước thiết lập một sàn hỗ trợ cao hơn trên phạm vi cả nước, thay vì để việc duy trì lực lượng này phụ thuộc quá lớn vào khả năng bố trí của từng địa phương.
Năm 2023, tại hội nghị vận động chính sách dành cho đội ngũ cô đỡ thôn bản, Bộ Y tế cho biết đã có 1.528 người được đào tạo nhưng ngừng hoạt động do không có kinh phí; số người còn được hưởng phụ cấp khi đó chỉ còn 911. Những số liệu này phản ánh tình hình tại thời điểm 31/1/2023, không phải quy mô lực lượng hiện nay, nhưng cho thấy rõ nút thắt mà chính sách mới đang hướng tới xử lý.
![]() |
| Cô đỡ đang nghe tim thai cho thai phụ vùng cao. Ảnh Báo Nhân Dân |
Giá trị nằm ở năng lực của phụ nữ ngay trong cộng đồng
Cô đỡ thôn, bản không đơn thuần là người có mặt gần nơi sản phụ sinh sống. Bộ Y tế xác định đây là lực lượng được đào tạo để tham gia chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại cộng đồng. Nhiều người là phụ nữ dân tộc thiểu số, hiểu ngôn ngữ, phong tục, tập quán và điều kiện sống tại chính địa bàn mình phục vụ.
Chính những năng lực đó giúp họ thực hiện một công việc mà khoảng cách địa lý mới chỉ là một phần của vấn đề. Khi thông tin về thai kỳ, sinh nở hay sức khỏe sinh sản được xem là chuyện riêng tư, sự tin cậy và khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ của cộng đồng có thể quyết định một phụ nữ có đồng ý đi khám thai, đến cơ sở y tế sinh con hoặc chuyển tuyến khi xuất hiện dấu hiệu nguy hiểm hay không.
Điểm này cần được nhìn dưới góc độ bình đẳng giới một cách thận trọng. Giá trị của cô đỡ thôn, bản không xuất phát từ quan niệm phụ nữ mặc nhiên phù hợp với công việc chăm sóc. Đó là giá trị của một lực lượng đã được đào tạo, có kiến thức chuyên môn phù hợp và sở hữu vốn ngôn ngữ, văn hóa, quan hệ cộng đồng mà hệ thống y tế tuyến trên khó thay thế hoàn toàn.
*Khi khoản hỗ trợ được nâng lên, chính sách vì vậy tác động ở hai chiều.
Một mặt, những phụ nữ đảm nhiệm công việc y tế tại cộng đồng được ghi nhận rõ hơn về mặt nguồn lực. Mặt khác, phụ nữ mang thai và bà mẹ tại các khu vực khó tiếp cận có thêm khả năng duy trì một đầu mối y tế ở ngay nơi mình sinh sống.
Đây cũng là mắt xích có thể bổ sung cho những chính sách đang triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Giai đoạn 2021–2025, Dự án 8 đã ghi nhận hơn 7.000 bà mẹ tại 10 tỉnh có tỷ lệ sinh con tại nhà cao được thụ hưởng các gói hỗ trợ sinh đẻ an toàn.
Sự hiện diện của cô đỡ thôn, bản có thể giúp những hỗ trợ về tài chính, khám thai, chuyển tuyến hay sinh đẻ an toàn đi được chặng cuối cùng từ chính sách tới người sử dụng dịch vụ.
Một mắt xích trong chuỗi chăm sóc mẹ và bé
Từ ngày 1/7 đến hết năm 2026, một số nhóm phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh ở khu vực khó khăn đã thuộc diện được hỗ trợ sàng lọc trước sinh và sơ sinh theo Nghị định 168/2026/NĐ-CP. Từ ngày 1/1/2027, phạm vi chính sách sàng lọc tiếp tục được mở rộng theo quy định mới. Phụ Nữ Mới đã thông tin về chính sách sàng lọc trước sinh từ năm 2027 trong bài viết tháng 5/2026.
Nếu nhìn từng chính sách riêng lẻ, hỗ trợ cho cô đỡ thôn, bản và hỗ trợ sàng lọc thai kỳ là hai vấn đề khác nhau. Nhưng từ góc nhìn người sử dụng dịch vụ, chúng có thể tạo thành một chuỗi hỗ trợ: có người tại cộng đồng nhận diện thai phụ, tư vấn và vận động khám; có cơ sở y tế tiếp nhận; có chính sách chia sẻ một phần chi phí; có cơ chế chuyển tuyến khi phát hiện nguy cơ.
![]() |
| Cô đỡ đang trên đường đi thăm khám cho thai phụ vùng cao. Ảnh Báo Nhân Dân |
Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa ở vùng địa lý khó khăn. Khảo sát được Bộ Y tế dẫn lại tại hội nghị năm 2023 cho thấy, theo số liệu điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2019, khoảng 12% phụ nữ mang thai dân tộc thiểu số chưa đi khám thai lần đầu; 13,6% không sinh tại cơ sở y tế và 9,5% sinh tại nhà không có người được đào tạo chuyên môn hỗ trợ. Các tỷ lệ cao hơn nhiều ở một số nhóm dân tộc. Đây là dữ liệu năm 2019 nên không thể dùng để mô tả nguyên trạng năm 2026, nhưng nó cho thấy vì sao một mạng lưới y tế hiểu địa bàn và văn hóa vẫn có giá trị.
Lợi ích cũng không chỉ thuộc về phụ nữ. Một ca thai nghén được phát hiện nguy cơ và chuyển tuyến kịp thời làm giảm rủi ro cho cả gia đình; trẻ sơ sinh được chăm sóc tốt hơn; người chồng và các thành viên khác trong gia đình có thêm đầu mối để nhận thông tin và cùng tham gia quyết định chăm sóc sức khỏe.
Đặt nam giới vào chuỗi chăm sóc này cũng quan trọng. Bình đẳng giới trong sức khỏe bà mẹ không có nghĩa toàn bộ trách nhiệm tiếp tục đặt lên phụ nữ, từ người mang thai đến cô đỡ. Gia đình và cộng đồng cần cùng tham gia, trong khi hệ thống y tế chịu trách nhiệm về chuyên môn, đào tạo, vật tư và chuyển tuyến.
Địa phương quyết định chính sách đi được bao xa
Điểm đáng theo dõi tiếp theo của Nghị định 192 nằm ở cấp tỉnh. Chính phủ quy định UBND cấp tỉnh căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu thực tế và khả năng ngân sách để trình HĐND cùng cấp xác định cụ thể số lượng nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản cũng như mức hỗ trợ hằng tháng. Mức địa phương quyết định có thể cao hơn, nhưng không được thấp hơn sàn của Nghị định.
Như vậy, trung ương đã đặt ra mức tối thiểu; chất lượng triển khai tiếp theo phụ thuộc khá lớn vào cách địa phương xác định nhu cầu.
Ở những nơi có nhiều thôn cách xa trạm y tế, tỷ lệ sinh tại nhà còn cao hoặc tồn tại rào cản ngôn ngữ, việc chỉ đếm dân số có thể chưa đủ. Khoảng cách di chuyển, địa hình, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, nhu cầu chăm sóc thai kỳ, tình trạng thiếu người và khả năng giao tiếp bằng tiếng dân tộc đều là những yếu tố đáng được đưa vào quá trình bố trí lực lượng.
![]() |
| Khai giảng lớp đào tạo cô đỡ thôn bản năm 2019. Ảnh: Báo Nhân Dân |
Cùng với hỗ trợ tài chính, cần duy trì đào tạo, cập nhật chuyên môn, trang thiết bị thiết yếu và cơ chế kết nối rõ ràng giữa cô đỡ với trạm y tế và tuyến trên. Một người ở gần cộng đồng chỉ thực sự phát huy năng lực khi phía sau họ có một hệ thống đủ khả năng tiếp nhận những trường hợp cần can thiệp chuyên môn.
Thành quả của chính sách cũng nên được đo bằng nhiều chỉ số hơn số người nhận hỗ trợ: bao nhiêu cô đỡ tiếp tục làm việc hoặc quay lại mạng lưới; những địa bàn còn thiếu người giảm ra sao; tỷ lệ thai phụ được quản lý thai nghén, chuyển tuyến kịp thời và sinh tại cơ sở y tế thay đổi thế nào.
Nghị định 192 chưa giải quyết toàn bộ bài toán sức khỏe bà mẹ ở vùng khó khăn. Nhưng việc nâng mức hỗ trợ và thiết lập một sàn chung trên toàn quốc là một bước tiến cụ thể sau nhiều năm ngành y tế vận động cho lực lượng này.
Giá trị lớn hơn của chính sách nằm ở cách nhìn nhận nguồn lực tại chỗ: một phụ nữ được đào tạo, hiểu cộng đồng và được duy trì trong mạng lưới y tế không chỉ là người nhận hỗ trợ. Bà có thể trở thành mắt xích giúp kiến thức y khoa, dịch vụ công và những chính sách mới về chăm sóc bà mẹ, trẻ em đến gần hơn với những gia đình ở nơi khó tiếp cận nhất.





















Tạo đột phá trong thúc đẩy bình đẳng giới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Phát huy tập tục văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong thúc đẩy bình đẳng giới
Tất cả người dân chuẩn bị sinh con chú ý quy định miễn phí từ 1/1/2027
Cùng chuyên mục
Tăng hỗ trợ để cô đỡ thôn bản thêm vững vàng ở vùng khó khăn
Phấn đấu có ít nhất 150 doanh nghiệp tiên phong do phụ nữ làm chủ
Cán bộ cấp xã kiêm nhiệm đặt bài toán mới cho bình đẳng giới
Hạ tuổi trợ cấp hưu trí có thể thu hẹp khoảng cách giới
Nhà trẻ cần trở thành hạ tầng thiết yếu của khu công nghiệp
Phụ nữ khó bước vào việc làm xanh hơn nam giới ở Việt Nam