![]() |
| Các đại biểu tại hội thảo công bố nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và quản lý nhà nước về bình đẳng giới, tổ chức tại Hà Nội ngày 6/7/2026. Ảnh: Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động. |
Một con số từ nghiên cứu mới về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bình đẳng giới đặt ra vấn đề đáng suy nghĩ: cả nước hiện có hơn 12.000 cán bộ làm công tác này, nhưng phần lớn là kiêm nhiệm. Ở cấp xã, cán bộ phụ trách chỉ dành khoảng 10–20% thời gian cho nhiệm vụ bình đẳng giới.
Con số 10–20% tự nó chưa đủ để kết luận một địa phương đang làm tốt hay chưa tốt, bởi khối lượng công việc khác nhau. Nhưng khi đặt cạnh việc chỉ một số tỉnh, thành phố còn duy trì được cán bộ có kinh nghiệm sau sắp xếp tổ chức bộ máy, đây là dấu hiệu cần được xem xét về năng lực thực thi chính sách ở cấp gần người dân nhất.
Nghiên cứu do Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động thuộc Bộ Nội vụ phối hợp với UN Women tại Việt Nam thực hiện, khảo sát thực tiễn tại Quảng Ninh, Đà Nẵng và Cà Mau, đồng thời tham chiếu kinh nghiệm của 14 quốc gia. Bối cảnh nghiên cứu cũng rất cụ thể: chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới đã chuyển về Bộ Nội vụ trong lúc mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai.
Nhiều chỉ tiêu tiến lên, năng lực cơ sở vẫn cần củng cố
Bức tranh bình đẳng giới của Việt Nam không chỉ có những khoảng trống. Đến năm 2025, nghiên cứu cho biết 13 trong 20 chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021–2030 đã đạt hoặc vượt mục tiêu.
Tỷ lệ bộ, cơ quan ngang bộ có nữ lãnh đạo chủ chốt đạt 70,6%; cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh có nữ lãnh đạo chủ chốt đạt 82,35%. Lao động nữ làm công hưởng lương đạt 52,1%, vượt mục tiêu 50%. Tỷ lệ người bị bạo lực trên cơ sở giới tiếp cận được dịch vụ hỗ trợ đạt 91,1%.
Nhưng tiến bộ ở cấp tổng thể không đồng nghĩa mọi khoảng cách đã được thu hẹp như nhau. Tỷ lệ nữ giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt ở cấp xã mới đạt 43,3%, chưa đạt mục tiêu của Chiến lược quốc gia.
![]() |
| Bà Phạm Minh Thu, Trưởng nhóm nghiên cứu, trình bày kết quả nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Ảnh: Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động. |
Vấn đề nhân lực vì thế không nên được nhìn đơn giản bằng số lượng cán bộ. Một cán bộ kiêm nhiệm vẫn có thể hoàn thành tốt công việc nếu trách nhiệm rõ, được đào tạo, có dữ liệu, công cụ và đủ nguồn lực. Ngược lại, có đầu mối nhưng không xác định rõ phần việc, không có dữ liệu phân tách theo giới hoặc thiếu cơ chế phối hợp thì bình đẳng giới dễ trở thành một nhiệm vụ được báo cáo định kỳ hơn là một yêu cầu được tích hợp vào quá trình ra quyết định.
Bức tranh này nối tiếp những vấn đề đã được đặt ra trong đánh giá mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021–2025, trong đó dữ liệu thống kê giới, ngân sách có trách nhiệm giới, đào tạo cán bộ và tăng cường kiểm tra, giám sát đều được xác định là những nhiệm vụ cần tiếp tục củng cố.
Đổi đầu mối quản lý chưa giải quyết hết bài toán thực thi
Dự thảo thẩm định cuối tháng 7/2026 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Lưu trữ, Luật Bình đẳng giới và Luật Hoạt động chữ thập đỏ đã xác định Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bình đẳng giới và là cơ quan thường trực của công tác phối hợp liên ngành.
Dự thảo cũng quy định các nhiệm vụ của Bộ Nội vụ như xây dựng chiến lược, chương trình và kế hoạch; tham gia đánh giá việc lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; phối hợp liên ngành; kiểm tra, xử lý vi phạm; công bố thông tin quốc gia về bình đẳng giới và thực hiện tiêu chí phân loại giới tính trong thông tin thống kê nhà nước.
Đây là bước cần thiết để làm rõ đầu mối sau thay đổi tổ chức bộ máy. Dự án luật đang được chuẩn bị trong chương trình lập pháp năm 2026 và Chính phủ tiếp tục yêu cầu hoàn thiện để bảo đảm tiến độ.
Quá trình sửa đổi Luật Bình đẳng giới trong chương trình lập pháp năm 2026 vì vậy không chỉ liên quan đến việc thay tên cơ quan chịu trách nhiệm. Vấn đề tiếp theo là trách nhiệm ở trung ương được chuyển hóa như thế nào thành công việc cụ thể tại tỉnh, xã và được đo bằng kết quả gì.
Ở cấp cơ sở, đây là điểm đặc biệt quan trọng. Bình đẳng giới không phải một chương trình chỉ dành cho phụ nữ. Một chính sách lao động, giáo dục, an sinh, chăm sóc hoặc phòng ngừa bạo lực có thể tác động khác nhau đến nữ giới và nam giới. Nếu dữ liệu và khâu đánh giá tác động không nhận diện được sự khác biệt đó, chính sách rất khó xác định chính xác nhóm nào đang hưởng lợi và nhóm nào có nguy cơ bị bỏ lại phía sau.
![]() |
| Bà Caroline T. Nyamayemombe, Trưởng Đại diện UN Women tại Việt Nam, phát biểu tại hội thảo ngày 6/7/2026. Ảnh: Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động. |
Cần trao cho cán bộ cả công cụ lẫn trách nhiệm
Khuyến nghị từ nghiên cứu của Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động và UN Women đi xa hơn việc tăng số người làm công tác bình đẳng giới. Báo cáo đề xuất làm rõ các khái niệm và tiêu chí đánh giá tác động giới, tăng lồng ghép giới trong toàn bộ chu trình chính sách, thể chế hóa ngân sách có trách nhiệm giới, xây dựng hệ thống dữ liệu giới quốc gia, củng cố trách nhiệm giải trình và chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ.
Điều đó gợi ra một hướng xử lý thực tế cho cấp xã: trước hết phải xác định rõ ai chịu trách nhiệm và nhiệm vụ nào không thể bị hòa lẫn vào phần việc kiêm nhiệm khác. Việc đào tạo cũng cần gắn với những thao tác cụ thể như đọc dữ liệu phân tách theo giới, phát hiện tác động khác biệt của chính sách, phối hợp chuyển gửi trường hợp cần hỗ trợ và theo dõi kết quả thực hiện.
Kế đến là dữ liệu. UN Women cho biết Việt Nam đã phát triển và thí điểm Chỉ số Bình đẳng giới cấp tỉnh, một công cụ nhằm đo lường và so sánh kết quả bình đẳng giới ở cấp địa phương, trong đó có những khác biệt về lãnh đạo, tham gia lao động và công việc chăm sóc không được trả công. Công cụ như vậy có ý nghĩa khi dữ liệu tại cơ sở đủ tin cậy và được sử dụng để điều chỉnh chính sách, thay vì chỉ tổng hợp vào báo cáo.
Cuối cùng là nguồn lực và trách nhiệm giải trình. Yêu cầu một cán bộ thực hiện nhiều đầu việc nhưng không xác định ngân sách, tiêu chí kết quả và cơ chế phối hợp sẽ khó tạo ra thay đổi bền vững. Ngược lại, tinh gọn bộ máy không nhất thiết đồng nghĩa phải tăng thêm biên chế cho từng lĩnh vực; điều quan trọng là nhiệm vụ không bị “vô chủ” sau khi tổ chức thay đổi.
Đó cũng là điểm cần theo dõi trong quá trình hoàn thiện chính sách sắp tới. Một hệ thống quản lý bình đẳng giới hiệu quả không chỉ cần cơ quan trung ương chịu trách nhiệm rõ ràng mà còn cần người thực thi ở cơ sở biết mình phải làm gì, có dữ liệu để quyết định và có nguồn lực để chịu trách nhiệm về kết quả.





















Tổng quan kết quả thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2025 và những vấn đề cần quan tâm
Thẩm tra kết quả thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025
Bổ sung dự án sửa đổi Luật Bình đẳng giới vào chương trình lập pháp năm 2026
Tháo gỡ điểm nghẽn để tiến tới bình đẳng giới thực chất
Cùng chuyên mục
Phấn đấu có ít nhất 150 doanh nghiệp tiên phong do phụ nữ làm chủ
Cán bộ cấp xã kiêm nhiệm đặt bài toán mới cho bình đẳng giới
Hạ tuổi trợ cấp hưu trí có thể thu hẹp khoảng cách giới
Nhà trẻ cần trở thành hạ tầng thiết yếu của khu công nghiệp
Phụ nữ khó bước vào việc làm xanh hơn nam giới ở Việt Nam
Ưu đãi nhà thầu có lao động nữ cần được đo trước khi sửa luật