![]() |
| Một nữ lao động làm công việc vệ sinh tại Việt Nam. Ảnh chỉ minh họa nhóm công việc vệ sinh, không xác định nhân vật là người giúp việc gia đình. Ảnh: Peter van der Sluijs/Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0. |
Luật Việc làm số 74/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 đã mở rộng diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Người làm theo hợp đồng từ đủ một tháng trở lên được đưa vào diện tham gia; người làm việc không trọn thời gian cũng có thể thuộc diện này nếu đáp ứng điều kiện về tiền lương. Nhưng ngay sau quy định mở rộng đó, khoản 2 Điều 31 xác định người lao động là người giúp việc gia đình không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Đây không phải một chi tiết nhỏ nếu nhìn từ góc độ giới. Báo cáo SIGI 2024 của OECD cho biết năm 2022, tại Việt Nam, phụ nữ chiếm hơn 90% số người làm công trong nhóm nghề giúp việc gia đình theo phân loại của ILO. Quy định của luật không phân biệt nam hay nữ: người giúp việc nam cũng nằm ngoài bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, với cơ cấu nghề như vậy, phần lớn những người chịu tác động thực tế là phụ nữ.
Điều cần phân tích vì thế không phải liệu luật có ưu tiên giới này hay phân biệt giới kia, mà là một ranh giới chính sách trung tính về câu chữ tạo ra kết quả như thế nào khi đặt vào một thị trường lao động vốn phân chia nghề nghiệp rất khác nhau giữa nam và nữ.
Lưới bảo hiểm rộng hơn nhưng còn một ngoại lệ
Bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Việc làm 2025 không chỉ là khoản tiền nhận được sau khi mất việc. Điều 30 quy định bốn nhóm chế độ gồm tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề; trợ cấp thất nghiệp; và hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo người lao động để duy trì việc làm.
Nếu đủ điều kiện hưởng trợ cấp, mức hằng tháng bằng 60% bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng đóng gần nhất, trong giới hạn luật định. Người hưởng còn được Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đóng bảo hiểm y tế trong thời gian hưởng trợ cấp.
Luật mới đồng thời tiến thêm một bước so với cách bao phủ gắn chặt với những hợp đồng dài hạn truyền thống. Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ một tháng đã nằm trong diện tham gia; người làm không trọn thời gian cũng được tính đến nếu đạt mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất.
Nhưng người giúp việc gia đình được nêu đích danh trong nhóm không thuộc diện bảo hiểm thất nghiệp. Điểm này đáng chú ý bởi công việc giúp việc gia đình không phải một hoạt động mà pháp luật lao động hoàn toàn không nhìn nhận. Chương X Nghị định 145/2020/NĐ-CP dành các quy định riêng cho lao động giúp việc gia đình; Điều 88 xác định đây là người lao động giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản để thực hiện các công việc giúp việc theo Bộ luật Lao động. Nghị định còn ban hành mẫu hợp đồng lao động giúp việc gia đình và mẫu thông báo sử dụng lao động.
Nói cách khác, đây là một quan hệ lao động đã được pháp luật nhận diện, nhưng khi bước sang chính sách bảo hiểm thất nghiệp lại có một ranh giới riêng.
![]() |
| Lao động nữ thực hiện công việc vệ sinh tại Việt Nam. Ảnh không xác định nhân vật là người giúp việc gia đình. Ảnh: Peter van der Sluijs/Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0. |
Quy định giống nhau nhưng tác động giới không giống nhau
Nếu chỉ đọc Điều 31, khó thấy vấn đề giới bởi điều luật không nói “lao động nữ giúp việc gia đình”. Nam giới làm nghề này cũng không được tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Nhưng phân tích giới không dừng ở việc xem văn bản có nhắc đến nam hay nữ hay không.
OECD cho biết phụ nữ chiếm hơn 90% người làm công thuộc nhóm nghề giúp việc gia đình tại Việt Nam trong dữ liệu năm 2022. Tổ chức này cũng đặt lao động giúp việc vào một mắt xích của kinh tế chăm sóc: họ có thể đảm nhiệm chăm trẻ, chăm người cao tuổi và những công việc gia đình mà nếu không được thuê ngoài sẽ do các thành viên trong hộ tự thực hiện.
Điều đó tạo ra một nghịch lý chính sách đáng xem xét. Việc thuê người giúp việc có thể giúp một gia đình giải phóng thời gian chăm sóc để các thành viên, trong đó có phụ nữ, duy trì việc làm có trả công. Nhưng chính lao động được thuê để gánh một phần công việc chăm sóc ấy lại thuộc một nghề nữ chiếm áp đảo và hiện đứng ngoài một nhánh bảo hiểm liên quan trực tiếp đến rủi ro mất việc.
Đây không có nghĩa người giúp việc phải được coi là “nạn nhân” hay mọi gia đình thuê giúp việc đều chuyển rủi ro sang một phụ nữ khác. Vấn đề thực chất nằm ở cách hệ thống an sinh định giá các loại quan hệ lao động khác nhau.
Một công việc diễn ra trong nhà riêng vẫn tạo ra thu nhập, vẫn có người thuê và người được thuê, vẫn có thể chấm dứt quan hệ lao động. Khi mất công việc đó, nhu cầu có thu nhập chuyển tiếp, tìm việc mới hoặc nâng kỹ năng không tự biến mất chỉ vì nơi làm việc là một hộ gia đình.
ILO cho biết trên phạm vi toàn cầu, 76,2% lao động giúp việc là phụ nữ. Báo cáo năm 2022 của tổ chức này ước tính chỉ 6% lao động giúp việc được tiếp cận đầy đủ các nhánh bảo trợ xã hội, trong khi thất nghiệp và tai nạn lao động nằm trong những nhánh thường thiếu bao phủ nhất. Đây là dữ liệu toàn cầu, không phải tỷ lệ của Việt Nam, nhưng cho thấy khoảng trống an sinh của nghề giúp việc không phải vấn đề riêng của một quốc gia.
Câu chuyện này nối trực tiếp với yêu cầu nhìn đúng giá trị của việc chăm sóc. Nếu chăm sóc được coi là một phần thiết yếu của hạ tầng xã hội, người thực hiện công việc chăm sóc có trả công cũng cần được nhìn như một bộ phận thực sự của thị trường lao động.
Khó quản lý không có nghĩa là không thể thiết kế
Sẽ quá đơn giản nếu từ khoảng trống trên đi thẳng đến kết luận rằng chỉ cần bổ sung người giúp việc gia đình vào bảo hiểm thất nghiệp là mọi vấn đề được giải quyết.
Luật Việc làm không nêu tại Điều 31 lý do vì sao nhóm này được loại khỏi diện tham gia. Vì vậy, không nên tự suy đoán một lý do rồi trình bày như chủ ý đã được cơ quan lập pháp xác nhận.
Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy lao động giúp việc thực sự là nhóm khó tổ chức bảo hiểm theo mô hình lao động doanh nghiệp thông thường. ILO chỉ ra những đặc điểm như nơi làm việc nằm trong hộ gia đình tư nhân, một người có thể làm cho nhiều chủ sử dụng, công việc thay đổi thường xuyên, tiền công có thể không đều và hợp đồng chính thức chưa phổ biến. Những đặc điểm đó làm phát sinh khó khăn trong đăng ký, xác định đóng góp và thực thi. Nhưng “khó bao phủ” khác với “không thể bao phủ”.
![]() |
| Công việc vệ sinh trong nhà là một phần của lao động giúp việc gia đình. Ảnh minh họa, không xác định địa điểm tại Việt Nam. Ảnh: Liliana Drew/Pexels. |
ILO khuyến nghị các nước khi mở rộng an sinh cho lao động giúp việc cần đơn giản hóa thủ tục đăng ký và đóng góp, xây dựng cơ chế tài chính phù hợp với đặc điểm công việc, thiết kế quyền lợi sát với thực tế của ngành nghề, đồng thời tăng khả năng tiếp cận thông tin, khiếu nại và giám sát. Tổ chức này cũng nhấn mạnh không có một mô hình duy nhất phù hợp với mọi quốc gia.
Điều đó đặc biệt quan trọng với Việt Nam. Trước khi đề xuất một cơ chế đóng bắt buộc cụ thể, cần trả lời được những câu hỏi mà dữ liệu hiện có chưa cho phép trả lời đầy đủ: bao nhiêu người đang làm giúp việc trực tiếp cho hộ gia đình; bao nhiêu người ở lại nhà chủ; bao nhiêu người làm theo giờ cho nhiều hộ; thu nhập có ổn định hay không; tỷ lệ có hợp đồng bằng văn bản thế nào; một quan hệ lao động trung bình kéo dài bao lâu; và cả người lao động lẫn hộ thuê có khả năng đóng góp đến mức nào.
Nếu thiếu những dữ liệu đó, một chính sách có mục tiêu tốt vẫn có thể tạo thủ tục quá phức tạp, chi phí thực thi cao hoặc khiến các quan hệ đang phi chính thức càng né đăng ký.
Đây cũng là lý do thảo luận về chính sách việc làm cho lao động nữ không nên chỉ dừng ở những nhóm đang có quan hệ lao động chuẩn. Càng nhiều hình thức việc làm linh hoạt, hệ thống an sinh càng phải biết ai đang đứng ngoài và vì lý do gì.
Cần đo khoảng trống trước lần sửa chính sách tiếp theo
Luật Việc làm 2025 tạo ra một công cụ đáng chú ý ngay trong chính hệ thống dữ liệu. Điều 17 quy định cơ sở dữ liệu về người lao động có thông tin về giới tính, tình trạng việc làm, nhu cầu việc làm, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp. Luật cũng hướng tới kết nối, cập nhật và quản lý tập trung dữ liệu người lao động trên phạm vi toàn quốc.
Đây là điểm có thể tận dụng để nhìn rõ hơn nhóm lao động giúp việc. Thay vì chỉ thống kê tổng số, dữ liệu nên cho biết cơ cấu nam - nữ, tuổi, loại hợp đồng, hình thức làm toàn thời gian hay theo giờ, làm cho một hay nhiều hộ, mức thu nhập, thời gian gắn bó với công việc và các hình thức bảo trợ xã hội đang có. Dữ liệu giới chỉ hữu ích khi đi cùng dữ liệu về điều kiện việc làm; nếu chỉ có một cột “nam - nữ”, rất khó biết khoảng trống thực sự hình thành ở đâu.
Tiếp theo có thể thử nghiệm những phương án đăng ký đơn giản ở nhóm có quan hệ lao động dễ nhận diện trước, thay vì lập tức áp một mô hình duy nhất cho toàn bộ nghề giúp việc. Việc trả lương qua tài khoản, đăng ký điện tử hoặc cơ chế đóng linh hoạt có thể được nghiên cứu, nhưng cần đánh giá bằng thử nghiệm thực tế về chi phí, mức tuân thủ và khả năng tiếp cận của cả người lao động lẫn hộ thuê.
Một lớp chính sách khác là hỗ trợ khi chuyển việc. Bảo hiểm thất nghiệp hiện không chỉ trả trợ cấp mà còn gắn với tư vấn, giới thiệu việc làm và đào tạo kỹ năng. Với lao động giúp việc, các dịch vụ như chuẩn hóa kỹ năng chăm sóc người cao tuổi, chăm trẻ, vệ sinh chuyên nghiệp, an toàn trong gia đình hoặc kết nối việc làm có kiểm chứng có thể có giá trị ngay cả trước khi câu chuyện mở rộng bảo hiểm thất nghiệp được giải quyết đầy đủ.
Quan trọng hơn, người làm nghề phải có mặt trong quá trình đánh giá chính sách. Không nên chỉ hỏi cơ quan quản lý, doanh nghiệp dịch vụ hay hộ thuê giúp việc. Phụ nữ và nam giới đang trực tiếp làm công việc này cần được hỏi về cách trả lương, biến động việc làm, lý do ít ký hợp đồng, khả năng đóng góp và quyền lợi nào có ý nghĩa nhất khi họ mất việc.
Khoản 4 Điều 31 Luật Việc làm cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp đối với những đối tượng khác có việc làm, thu nhập ổn định, thường xuyên trên cơ sở đề xuất của Chính phủ. Tuy nhiên, do người giúp việc gia đình đang được khoản 2 của chính điều luật nêu rõ là nhóm không thuộc diện tham gia, không thể mặc nhiên coi khoản 4 là con đường tự động mở rộng cho nhóm này; bất kỳ thay đổi nào cũng cần được xem xét đúng thẩm quyền và cấu trúc pháp lý. Đó cũng là cách tiếp cận thận trọng hơn việc chỉ kêu gọi “bổ sung ngay” một nhóm nghề vào hệ thống.
Một chính sách bình đẳng giới không nhất thiết phải viết riêng một chế độ cho phụ nữ. Trước hết, nó phải biết một quy định chung đang tác động tới ai. Với người giúp việc gia đình, dữ liệu hiện có cho thấy phần lớn người nằm ngoài bảo hiểm thất nghiệp là phụ nữ bởi chính cơ cấu giới của nghề.
Bước tiếp theo vì vậy nên bắt đầu từ dữ liệu tốt hơn, thử nghiệm cơ chế phù hợp và sự tham gia của chính người lao động. Khi một nghề đã được pháp luật công nhận là quan hệ lao động nhưng vẫn đứng ngoài một nhánh bảo hiểm quan trọng, khoảng trống đó cần được theo dõi như một vấn đề chính sách chứ không nên mặc nhiên trở thành đặc điểm cố định của nghề.





















Muốn phụ nữ sinh con, chính sách phải tính đến việc chăm sóc
Đại biểu Quốc hội đề xuất chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ mang thai và nuôi con nhỏ
Phát triển nguồn nhân lực nữ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
Phụ nữ khó bước vào việc làm xanh hơn nam giới ở Việt Nam
Cùng chuyên mục
Người giúp việc gia đình vẫn ngoài bảo hiểm thất nghiệp
Nông thôn mới nâng ngưỡng phụ nữ tham gia mô hình kinh tế
Tăng hỗ trợ để cô đỡ thôn bản thêm vững vàng ở vùng khó khăn
Phấn đấu có ít nhất 150 doanh nghiệp tiên phong do phụ nữ làm chủ
Cán bộ cấp xã kiêm nhiệm đặt bài toán mới cho bình đẳng giới
Hạ tuổi trợ cấp hưu trí có thể thu hẹp khoảng cách giới