![]() |
| Một phụ nữ dệt chiếu cói tại Phú Yên, ảnh tư liệu năm 2023. Hình ảnh minh họa lao động thủ công; không xác định nhân vật là người nhận việc về nhà làm. Ảnh: Proxodimec/Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0. |
Một chiếc máy may đặt trong nhà, nguyên liệu được giao đến rồi sản phẩm được nhận lại theo đợt. Một công đoạn thủ công, thêu, đan, lắp ráp hoặc hoàn thiện sản phẩm cũng có thể được thực hiện ngoài nhà xưởng.
Khi công việc đi về nhà cùng người lao động, ranh giới nơi làm việc thay đổi. Nhưng bụi, tiếng ồn, tư thế lặp lại, máy móc, điện, vật sắc nhọn hay vật liệu sử dụng trong sản xuất không vì thế mà biến mất.
Pháp luật Việt Nam không hoàn toàn bỏ trống nhóm này. Điều 167 Bộ luật Lao động 2019 cho phép người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động để nhận việc về làm tại nhà. Điều 69 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 còn dành riêng quy định về an toàn đối với người nhận công việc về làm tại nhà, bao gồm thỏa thuận bằng văn bản, xử lý khi xảy ra tai nạn và trách nhiệm kiểm tra điều kiện an toàn của người sử dụng lao động. Tuy nhiên, đến năm 2026, chính phạm vi bảo vệ đối với các hình thức làm việc mới lại được đặt lên bàn sửa luật.
Ngày 2/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết 117/NQ-CP bổ sung dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động sửa đổi vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội khóa XVI. Đến cuộc họp ngày 14/8, Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã nghe Bộ Nội vụ báo cáo riêng về việc lồng ghép bình đẳng giới trong dự án luật. Một nhóm được gọi tên đáng chú ý chính là người nhận việc về nhà làm.
Nhận việc về nhà làm không chỉ là làm việc từ xa
Cần phân biệt người nhận công việc về nhà làm với hình dung quen thuộc về một nhân viên văn phòng mở laptop làm việc từ xa. ILO sử dụng khái niệm rộng hơn là lao động làm việc tại nhà, trong đó có người làm việc từ xa, người sản xuất hàng hóa tại nhà như thêu, thủ công mỹ nghệ, lắp ráp điện tử và cả những người thực hiện dịch vụ trên nền tảng số. Trong nhóm rộng này còn có những người tự làm cho chính mình, vì vậy số liệu quốc tế không thể đồng nhất hoàn toàn với khái niệm “người lao động nhận công việc về làm tại nhà” của pháp luật Việt Nam.
Sự phân biệt ấy quan trọng, một nhân viên làm việc trực tuyến tại nhà vẫn có thể thuộc bộ máy của doanh nghiệp, dùng thiết bị do công ty quản lý và tiếp cận các kênh nhân sự tương đối rõ ràng. Trong khi người nhận từng công đoạn sản xuất về làm có thể làm việc phân tán, ít xuất hiện tại cơ sở sản xuất và khó quan sát hơn từ góc độ quản lý an toàn.
Trước đại dịch COVID-19, ILO ước tính có khoảng 260 triệu lao động làm việc tại nhà trên thế giới, chiếm 7,9% tổng việc làm; 56% trong số đó, tương đương 147 triệu người, là phụ nữ. Đây là dữ liệu toàn cầu về nhóm lao động làm việc tại nhà theo nghĩa rộng, không phải số liệu riêng của Việt Nam hay riêng nhóm có quan hệ lao động nhận việc từ doanh nghiệp.
Yếu tố giới xuất hiện không chỉ ở số lượng. ILO nhận định với nhiều người, đặc biệt là phụ nữ vốn đảm nhận phần lớn trách nhiệm chăm sóc và việc gia đình, làm việc tại nhà tạo ra một con đường tham gia lao động có thu nhập mà không nhất thiết phải rời khỏi nhà.
Sự linh hoạt ấy có giá trị thực tế. Nó có thể giúp một người tiếp tục tạo thu nhập khi phải chăm con, chăm người thân hoặc khó di chuyển đến nơi làm việc cố định.
Nhưng linh hoạt không đồng nghĩa không có rủi ro. Nếu công việc có trả công diễn ra ngay trong không gian vốn đồng thời dùng để nấu ăn, nghỉ ngơi và chăm sóc gia đình, thời gian lao động có thể hòa lẫn với thời gian làm việc nhà. Với phụ nữ, đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý bởi số liệu Việt Nam năm 2024 cho thấy phụ nữ vẫn dành trung bình 15,5 giờ mỗi tuần cho công việc gia đình không được trả công, so với 8,6 giờ ở nam giới.
Câu chuyện phụ nữ vẫn dành gần gấp đôi thời gian làm việc nhà so với nam giới vì thế có liên hệ trực tiếp với cách thiết kế chính sách cho lao động tại nhà: cơ hội có việc linh hoạt không nên đổi lại bằng việc mọi trách nhiệm lao động, chăm sóc và an toàn cùng dồn vào một người.
Nhóm lao động khó nhìn thấy đã được gọi tên
Điểm đáng chú ý trong quá trình sửa Luật An toàn, vệ sinh lao động không phải là lần đầu pháp luật biết đến người nhận việc về nhà làm.
Như đã nêu, Điều 69 luật hiện hành đã quy định riêng cho nhóm này. Người sử dụng lao động có trách nhiệm kiểm tra việc bảo đảm an toàn tại nơi người lao động nhận việc về làm, thực hiện cam kết và báo cáo tai nạn lao động xảy ra khi người lao động làm tại nhà.
Vấn đề năm 2026 nằm ở việc hệ thống bảo vệ đang được xem xét lại trong bối cảnh hình thức lao động ngày càng đa dạng.
Tại cuộc họp của Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội ngày 14/8, Phó Cục trưởng Cục Việc làm Bùi Đức Nhưỡng cho biết một trong những hạn chế sau hơn 10 năm thi hành luật là phạm vi hỗ trợ đối với người làm việc không có quan hệ lao động và các hình thức làm việc mới cần được làm rõ hơn. Dự thảo đang chuyển mạnh sang quản lý dựa trên đánh giá và kiểm soát rủi ro thực tế.
Bà Ngô Diệu Linh, Phó Vụ trưởng Vụ Công tác thanh niên và Bình đẳng giới, Bộ Nội vụ, đánh giá dự thảo đã có bước tiến khi mở rộng bảo hộ đối với lao động giúp việc gia đình và lao động nhận việc về nhà làm – những nhóm mà nữ giới chiếm đa số nhưng trước đây ít được bảo hộ. Tuy nhiên, bà cũng chỉ ra việc lồng ghép giới vẫn còn mang tính nguyên tắc và thiếu cơ chế thực thi nhạy cảm giới.
![]() |
| Một phụ nữ làm công việc may tại Việt Nam, ảnh tư liệu năm 2013. Máy móc, dụng cụ và tư thế làm việc vẫn cần được tính đến khi đánh giá an toàn dù công việc diễn ra ngoài nhà xưởng. Ảnh: Peter van der Sluijs/Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0. |
Đây là một điểm chính sách đáng theo dõi. Nếu luật chỉ nói mọi người lao động đều có quyền an toàn, nguyên tắc có thể hoàn toàn bình đẳng về câu chữ. Nhưng người làm trong nhà máy và người nhận một công đoạn về căn nhà của mình không ở trong cùng một hệ thống kiểm soát.
Ở nhà máy, nguồn điện, máy móc, thông gió, hóa chất, lối thoát hiểm, giờ làm, thiết bị bảo vệ và tai nạn có thể được quản lý theo quy trình chung. Khi công việc phân tán về hàng trăm căn nhà, người chịu trách nhiệm kiểm tra là ai, kiểm tra tới mức nào và bằng cách nào trở thành câu hỏi khó hơn. Vì vậy, mở rộng đối tượng trong luật chỉ là bước đầu. Giá trị thực sự nằm ở cơ chế thực thi sau đó.
An toàn phải đi theo rủi ro, không theo địa chỉ
ILO cho biết lao động làm việc tại nhà nhìn chung phải đối mặt với rủi ro an toàn và sức khỏe cao hơn, đồng thời ít được tiếp cận đào tạo hơn người làm việc ngoài nhà. Tổ chức này cũng cảnh báo tính “vô hình” của nơi làm việc trong không gian riêng khiến việc thực thi pháp luật trở nên khó khăn. Đây là nhận định quốc tế và mức độ cụ thể ở Việt Nam cần được đo bằng dữ liệu trong nước.
Với một người may hàng tại nhà, rủi ro có thể đến từ máy móc, vật sắc nhọn, tư thế ngồi kéo dài hoặc thao tác lặp lại. Với một công đoạn sử dụng keo, dung môi, bụi hoặc thiết bị điện, loại rủi ro lại khác. Không thể vì các công việc này nằm ngoài cổng nhà máy mà mặc định môi trường gia đình là an toàn.
Luật hiện hành đã đặt trách nhiệm kiểm tra cho người sử dụng lao động, nhưng chính không gian nhà ở làm nảy sinh một bài toán cân bằng: bảo vệ người lao động mà không xâm phạm bất hợp lý đời sống riêng tư.
Dự thảo sửa đổi mở ra một cách tiếp cận hợp lý hơn khi lấy mức độ rủi ro của công việc làm nền tảng. Theo thông tin của Quốc hội, Điều 18 dự thảo xác định việc trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân, bồi dưỡng và chế độ bảo hộ dựa vào yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại và điều kiện lao động, thay vì chỉ dựa vào giới tính.
Điều đó cũng giúp xử lý đúng vấn đề giới. Một phụ nữ làm công việc ít nguy cơ không cần bị hạn chế chỉ vì là phụ nữ. Một nam giới thực hiện công việc có phơi nhiễm nguy hiểm cũng không nên được coi là ít cần bảo vệ hơn. Ngược lại, khi đặc điểm sinh học làm thay đổi mức độ tác động của rủi ro, hệ thống an toàn phải tính được sự khác biệt đó.
Bài toán đồ bảo hộ vừa vặn với lao động nữ là một ví dụ: cấp cùng một loại phương tiện cho tất cả chưa chắc đã tạo ra cùng mức bảo vệ nếu kích thước và đặc điểm cơ thể khác nhau. Nhưng đối với người nhận việc về nhà làm, còn phải đi thêm một bước.
Nếu doanh nghiệp giao một loại vật liệu hoặc công đoạn có nguy cơ, trách nhiệm hướng dẫn cách sử dụng, lưu giữ, xử lý chất thải và ứng phó sự cố cần được xác định rõ. Nếu phải sử dụng thiết bị bảo vệ, ai cung cấp, ai thay thế khi hỏng và ai kiểm tra việc sử dụng cũng không nên bị đẩy hoàn toàn sang người lao động chỉ vì họ làm việc tại nhà.
Khi xảy ra tai nạn, hệ thống cũng phải đủ khả năng phân biệt một tai nạn sinh hoạt với tai nạn phát sinh trong quá trình thực hiện công việc. Điều 69 luật hiện hành đã yêu cầu người lao động hoặc thân nhân báo ngay cho người sử dụng lao động và quy định trách nhiệm báo cáo của người sử dụng lao động. Đây là nền tảng cần giữ, nhưng sửa luật là cơ hội để quy trình trở nên rõ và khả thi hơn trong thực tế.
![]() |
| Một phụ nữ may vá trong không gian nhà ở tại TP.HCM. Ảnh minh họa cho việc hoạt động thủ công có thể diễn ra ngay trong nơi sinh hoạt; không xác định đây là trường hợp nhận việc từ doanh nghiệp về nhà làm. Ảnh: QUI NGUYEN/Pexels. |
Một câu hỏi khác thường bị bỏ qua là người sống cùng nhà. ILO khuyến nghị rằng khi công việc tại nhà tạo ra nguy cơ nghiêm trọng, hệ thống an toàn phải tính cả khả năng ảnh hưởng tới người lao động, gia đình và cộng đồng. Nếu nguyên vật liệu, máy móc hay hóa chất được mang về một căn nhà có trẻ nhỏ hoặc người cao tuổi, ranh giới giữa “an toàn lao động” và “an toàn gia đình” gần như biến mất.
Đây là lý do chính sách không nên chỉ yêu cầu người lao động tự chứng minh căn nhà đủ an toàn rồi coi như đã hoàn thành trách nhiệm.
Dữ liệu giới phải tìm được người ở ngoài xưởng
Khoảng trống lớn nhất hiện nay là dữ liệu. Trong các nguồn công khai được rà soát cho bài viết này, chưa tìm thấy một thống kê quốc gia cập nhật cho biết Việt Nam hiện có bao nhiêu người nhận công việc từ người sử dụng lao động về làm tại nhà theo đúng khái niệm của Bộ luật Lao động, bao nhiêu là nữ, họ tập trung ở ngành nào và tỷ lệ tai nạn hoặc bệnh liên quan tới công việc ra sao. Không có dữ liệu đó rất khó đánh giá liệu một điều luật được viết tốt có thực sự chạm tới nhóm cần bảo vệ hay không.
Bộ Nội vụ đã đề xuất dự thảo Luật bổ sung việc thu thập và quản lý dữ liệu theo giới tính trong các quy định về cơ sở dữ liệu và thống kê. Đây là đề xuất cần thiết, nhưng một cột “nam/nữ” chưa đủ.
Dữ liệu nên cho phép nhìn đồng thời giới tính với ngành nghề, hình thức quan hệ lao động, địa bàn, số giờ làm, loại công việc, yếu tố nguy hiểm, tai nạn, bệnh nghề nghiệp và khả năng tiếp cận huấn luyện.
Chẳng hạn, nếu phụ nữ chiếm nhiều ở nhóm nhận việc thủ công về nhà nhưng tai nạn gần như không xuất hiện trong hệ thống báo cáo, có ít nhất hai khả năng rất khác nhau: công việc thực sự ít nguy cơ hoặc tai nạn chưa được nhận diện và khai báo đầy đủ. Không có dữ liệu hai tình huống đó dễ bị đánh đồng.
Người lao động cũng cần được tham gia vào quá trình xây dựng hướng dẫn thực thi. Một quy trình kiểm tra an toàn được thiết kế hoàn toàn từ góc nhìn nhà máy có thể trở nên quá nặng nề khi áp vào hộ gia đình. Ngược lại, một cơ chế dựa quá nhiều vào tự khai có thể khiến mọi rủi ro quay lại thành trách nhiệm cá nhân. Cách hợp lý hơn là phân loại theo mức nguy cơ.
Công việc đơn giản, không sử dụng máy hoặc chất nguy hiểm có thể áp dụng hướng dẫn và tự đánh giá gọn hơn. Công việc có máy móc, điện công suất lớn, hóa chất hoặc yếu tố có hại cần mức kiểm soát cao hơn. Doanh nghiệp giao việc phải biết mình đang đưa loại rủi ro nào ra khỏi nhà xưởng và vào không gian sinh hoạt của người khác.
Cũng cần tránh một hệ quả ngược của chính sách giới. Nếu yêu cầu an toàn được thiết kế quá cứng theo hướng “phụ nữ cần được bảo vệ”, doanh nghiệp có thể đơn giản chọn không giao việc cho phụ nữ để tránh trách nhiệm. Chính cuộc rà soát dự thảo năm 2026 đã nhấn mạnh việc bảo đảm bình đẳng giới thực chất nhưng không tạo ra những rào cản bất hợp lý về cơ hội việc làm và nghề nghiệp.
Đó là thay đổi tư duy quan trọng: không cấm phụ nữ làm việc để bảo vệ họ; phải làm cho công việc an toàn hơn để phụ nữ và nam giới đều có thể lựa chọn.
Câu chuyện này cũng cho thấy quyền của phụ nữ trong lao động chỉ có ý nghĩa khi được thực thi ở những nơi làm việc rất khác nhau, không chỉ trong doanh nghiệp lớn hay nhà máy có bộ phận an toàn chuyên trách.
Dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động sửa đổi vẫn đang trong quá trình xây dựng, vì vậy chưa thể coi những nội dung đang được thảo luận là quy định cuối cùng. Nhưng việc người nhận công việc về nhà làm được nhắc tới trong quá trình rà soát giới đã chỉ ra một hướng cần thiết: hệ thống an toàn phải theo người lao động tới nơi công việc thực sự diễn ra.
Một căn nhà có thể đồng thời là nơi chăm con, nghỉ ngơi và kiếm sống. Chính sách tốt không nên buộc phụ nữ phải lựa chọn giữa sự linh hoạt và an toàn, cũng không nên mặc định nam giới ít cần bảo vệ hơn. Ranh giới của nơi làm việc có thể thay đổi. Quyền được làm việc an toàn thì không nên dừng ở cổng nhà máy.





















Đồ bảo hộ vừa vặn giúp lao động nữ làm việc an toàn hơn
Người giúp việc gia đình vẫn ngoài bảo hiểm thất nghiệp
Báo cáo Chính phủ: Phụ nữ Việt Nam vẫn gánh vác gần gấp đôi thời gian làm việc nhà so với nam giới
140 năm Ngày Quốc tế Lao động: Khi quyền của phụ nữ cần được “kích hoạt” trong thực tế
Cùng chuyên mục
Người nhận việc về nhà làm cũng cần được bảo vệ an toàn
Ưu tiên trẻ em gái trong tiêm HPV miễn phí là lựa chọn hợp lý
Chính sách giảm tảo hôn cần đi đúng nhóm trẻ có nguy cơ cao
Cơ hội của cán bộ nữ cần được đo từ đào tạo đến bổ nhiệm
Chọn người có uy tín vùng dân tộc thiểu số không phân biệt giới
Cha mẹ đơn thân nghèo sẽ được trợ cấp 540.000 đồng mỗi con