![]() |
| PGS.TS Vương Thị Hường tại lễ công bố quyết định bổ nhiệm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm tháng 3/2026. Ảnh: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Hồ sơ hiện hành của Viện xác nhận học hàm, học vị và chức danh của bà. |
Ngày Quốc khánh 2/9 thường đưa người Việt trở lại những câu chuyện lớn về độc lập và chủ quyền. Nhưng một đất nước muốn đứng vững bằng chính năng lực của mình còn cần một quyền ít được nói tới hơn: quyền đọc, hiểu và kiểm chứng ký ức do chính xã hội mình để lại.
Ở lớp ký ức ấy, có những tư liệu từng là công cụ truyền tri thức: những tấm ván khắc chữ, những bản sách được in lại nhiều lần, những văn bản được giải nghĩa hoặc diễn sang chữ Nôm để người đọc Việt dễ tiếp cận hơn.
PGS.TS Vương Thị Hường, nhà nghiên cứu Hán Nôm, hiện là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, đã theo đuổi nhiều công trình về văn bản và thư tịch Việt Nam. Cuối tháng 8/2026, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đăng lại nghiên cứu của bà về khắc in mộc bản tại Hà Nội và phong trào “khai dân trí” cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đây không phải công bố mới: bài gốc đã xuất hiện trên Tạp chí Hán Nôm số 1/2023.
3.000 mộc bản và đường đi của tri thức
Trong danh mục tài liệu của nghiên cứu, Vương Thị Hường dẫn đề tài cấp Bộ mang tên “Khảo cứu, biên mục và chụp ảnh kho Mộc bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm”, thực hiện giai đoạn 2021-2022, với giai đoạn đầu xử lý 3.000 mộc bản. Công việc vì thế không chỉ là đọc nội dung sách đã in mà còn nhận diện, lập danh mục và giữ lại dữ liệu hình ảnh của chính vật mang chữ.
Từ thư tịch, văn bia và các khảo cứu trước, bà dựng lại một mạng lưới in ấn khá dày tại Hà Nội cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Thống kê mà nghiên cứu gọi là “chưa đầy đủ” ghi nhận 75 cơ sở tàng bản, in ấn và cửa hiệu phát hành thư tịch từ mộc bản.
Đền Ngọc Sơn là trường hợp đáng chú ý. Ngọc Sơn thiện thư bạ năm 1895 ghi 61 đơn vị tác phẩm với 2.344 ván in, phần lớn khắc hai mặt. Trong nghiên cứu năm 2000, Vương Thị Hường dựa trên ba nguồn mục lục khác để thống kê 242 tên sách từng được in tại đây. Hai con số không nên đem trừ cho nhau để suy ra tăng hay giảm, bởi phạm vi nguồn và đơn vị thống kê khác nhau.
![]() |
| Bìa và bài tựa sách Âm chất giải âm, bản tàng tại đền Ngọc Sơn, khắc in năm Tự Đức Kỷ Mùi 1859. Tư liệu được sử dụng trong khảo cứu của PGS.TS Vương Thị Hường. Ảnh: VASS/nguồn nghiên cứu. |
Khi khoảng cách không chỉ nằm ở việc có sách
Một bản in tồn tại chưa đồng nghĩa tri thức đã dễ tiếp cận. Cuối thế kỷ XIX, phần lớn kinh điển Nho, Phật, Đạo vẫn được viết bằng chữ Hán. Nghiên cứu của Vương Thị Hường cho thấy giới trí thức sử dụng các cách như trích yếu, tiết nghĩa, giải âm và diễn Nôm để đưa nội dung đến gần hơn với người đọc Việt.
Chùa Xiển Pháp là ví dụ rõ. Trong khoảng thời gian Thiền sư Tính Định trụ trì từ 1882 đến 1898, nơi đây trở thành cơ sở khắc in với gần 20 bộ sách. Một số kinh được diễn sang chữ Nôm, thậm chí dùng thể lục bát, nhằm làm nội dung gần hơn với ngôn ngữ và thói quen tiếp nhận của người Việt.
Nhìn bằng ngôn ngữ hôm nay, đó có thể xem như một quá trình “bản địa hóa” thông tin: không chỉ nhân bản văn bản mà còn chuyển cách diễn đạt để giảm rào cản ngôn ngữ. Tuy nhiên, không nên lãng mạn hóa. Biết chữ Nôm vẫn đòi hỏi năng lực đọc; có nhiều bản in không có nghĩa mọi tầng lớp đều tiếp cận ngang nhau, càng không thể suy thẳng sang một xã hội đã phổ cập tri thức.
Những chuyển động sau đó về học hành và sự xuất hiện của nữ lưu trong đời sống tri thức cho thấy người tiếp nhận tri thức cũng dần thay đổi, nhưng đó là một tiến trình xã hội dài chứ không phải kết quả của riêng kỹ thuật in.
Một hạ tầng truyền tri thức trước thời đại số
Điểm đáng chú ý trong khảo cứu của Vương Thị Hường là mộc bản không được nhìn như những miếng gỗ cổ đứng riêng lẻ. Giá trị nằm trong cả chuỗi: người biên soạn, người diễn nghĩa, thợ khắc, nơi tàng bản, cơ sở in và mạng lưới phát hành.
Một tấm ván đã khắc có thể tạo ra nhiều bản in; một bản sách có thể được in lại ở nơi khác và để lại dị bản. Vì vậy, khảo sát ký hiệu, lời tựa, nơi tàng bản, niên đại in và sự khác nhau giữa các bản không chỉ giúp biết cuốn sách nói gì mà còn gợi lại con đường tri thức đã lưu chuyển.
Cách nhìn ấy vẫn hữu ích khi Việt Nam số hóa di sản. Không gian Mộc bản triều Nguyễn mà Phụ Nữ Mới từng giới thiệu là một kho tư liệu khác với mộc bản Hà Nội trong nghiên cứu này, nhưng cho thấy bước chuyển từ bảo quản vật thể sang mở rộng tiếp cận bằng 3D Mapping, Hologram, VR360 và mã QR. Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV bảo quản 33.971 tấm mộc bản triều Nguyễn, khối tư liệu được UNESCO ghi danh Di sản Tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới năm 2009.
![]() |
| Nhóm của PGS.TS Đinh Điền trình bày nghiên cứu dịch tự động Hán Nôm bằng AI. Đây không phải nhóm nghiên cứu của PGS.TS Vương Thị Hường; ảnh được sử dụng để minh họa bước chuyển từ lưu giữ tư liệu sang mở rộng khả năng tiếp cận bằng công nghệ số. Ảnh: Trung tâm Ngôn ngữ học tính toán/Phụ Nữ Mới. |
Khoảng cách tiếp cận vẫn chưa biến mất khi văn bản được đưa lên màn hình. Phụ Nữ Mới tháng 7/2026 dẫn thống kê của Hội Bảo tồn di sản Hán Nôm cho biết hơn 90% tư liệu Hán Nôm chưa được dịch sang chữ Quốc ngữ. Nhóm PGS.TS Đinh Điền và cộng sự đang giải bài toán bằng một công nghệ khác: nhận dạng văn tự cổ từ ảnh, chuyển tự và hỗ trợ dịch bằng AI.
Từ mộc bản đến nhận dạng Hán Nôm bằng AI, công cụ thay đổi hoàn toàn nhưng câu hỏi nền khá giống nhau: làm thế nào để một kho tri thức không chỉ được giữ lại mà còn có thể được đọc và hiểu.
Ngày 2/9 nhìn từ quyền tự đọc ký ức của mình
Sẽ là quá lời nếu nối một đường thẳng từ phong trào khắc in mộc bản cuối thế kỷ XIX đến độc lập năm 1945. Lịch sử không vận hành bằng một nguyên nhân đơn lẻ, và nghiên cứu nghiêm túc cần tránh kiểu kết luận thuận tai nhưng thiếu chứng cứ.
Giá trị của công trình Vương Thị Hường nằm ở chỗ khác. Từ mục lục, ván in, lời tựa và dị bản, nghiên cứu cho thấy một xã hội từng tìm cách xây dựng năng lực truyền tri thức trong điều kiện kỹ thuật của thời mình. Diễn Nôm, khắc in và phát hành không tự động tạo ra “dân trí”, nhưng chúng mở thêm các kênh để kiến thức lưu chuyển.
Hôm nay, khi nhiều văn bản cổ không còn thuộc hệ chữ mà đa số người Việt có thể đọc trực tiếp, khảo cứu, biên mục, số hóa và giải nghĩa lại trở thành một dạng hạ tầng tri thức khác. Không phải để giữ quá khứ trong tủ kính, mà để người sau còn khả năng quay lại nguồn gốc, đối chiếu một nhận định và đặt câu hỏi mới với tư liệu gốc.
Trong ngày Quốc khánh, có thể nhìn độc lập từ một lát cắt như vậy: một đất nước không chỉ cần lưu giữ ký ức của mình, mà còn cần những người đủ năng lực đọc, kiểm chứng và làm cho kho ký ức ấy tiếp tục có ích cho hiện tại.
Mộc bản Hà Nội qua bốn con số
- 3.000 mộc bản: quy mô giai đoạn đầu của đề tài khảo cứu, biên mục và chụp ảnh kho mộc bản được Vương Thị Hường dẫn trong nghiên cứu.
- 75 cơ sở: số cơ sở tàng bản, in ấn và phát hành thư tịch từ mộc bản tại Hà Nội được thống kê bước đầu, chưa phải con số đầy đủ.
- 2.344 ván in: số ván được Ngọc Sơn thiện thư bạ thống kê năm 1895, phần lớn khắc hai mặt.
- Gần 20 bộ sách: số lượng được ghi nhận đã in tại chùa Xiển Pháp trong thời gian Thiền sư Tính Định trụ trì khoảng 1882-1898.





















Mở cánh cửa tiếp cận di sản Hán Nôm, có thể dùng điện thoại để chụp và nhận dạng văn tự cổ
Có gì tại “Không gian Mộc bản triều Nguyễn”?
Phát huy giá trị Châu bản triều Nguyễn sau 5 năm được UNESCO công nhận Di sản thế giới
Nữ lưu chuyển mình
Cùng chuyên mục
Mộc bản Hà Nội từng đưa tri thức đến gần người Việt hơn
Cấp bằng độc quyền quy trình tổng hợp hạt nano selen từ lá vối
Từ đất rừng Côn Đảo, hai loài mới được khoa học gọi tên
Dạy máy hiểu tiếng Việt để người Việt làm chủ công nghệ
NCS Dương Thị Hồng Nhung khởi nghiệp từ bài toán chọn liều thuốc
Nuôi rễ tỏi để tìm cách phòng bệnh cho tôm