![]() |
| Phần trình bày của TS Vũ Thị Bạch Phượng được chiếu trên màn hình tại phiên nghiệm thu đề tài ngày 14/1/2026. Ảnh: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM. |
Trong nghiên cứu bệnh trên tôm, phát hiện một loại cây có khả năng kháng khuẩn mới chỉ là điểm khởi đầu. Muốn đưa nguyên liệu ấy vào quy trình sản xuất, các nhà khoa học còn phải trả lời nhiều câu hỏi: lấy nguyên liệu ở đâu, thành phần có ổn định không, có thể nhân sinh khối trong điều kiện kiểm soát hay không?
Đó là phần việc TS Vũ Thị Bạch Phượng, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM, cùng các cộng sự theo đuổi với cây tỏi.
Nhóm nghiên cứu không dừng ở việc thử hoạt tính của củ tỏi thông thường. Họ tìm cách tạo “rễ tơ” trong phòng thí nghiệm – một dạng mô rễ có thể sinh trưởng nhanh, duy trì tương đối ổn định và trở thành nguồn nguyên liệu cho các nghiên cứu tiếp theo.
Điểm cần nói rõ ngay từ đầu là tỷ lệ 100% được công bố là tỷ lệ cảm ứng tạo rễ tơ trong một điều kiện thí nghiệm, không phải hiệu quả phòng bệnh cho tôm đạt 100%.
Từ nhiều cao chiết thực vật đến lựa chọn tỏi
Trong đề tài do TS Vũ Thị Bạch Phượng làm chủ nhiệm, nhóm nghiên cứu đã khảo sát nhiều cao chiết thực vật đối với ba loài vi khuẩn gồm Vibrio cholerae, Vibrio parahaemolyticus và Vibrio vulnificus. Sau bước sàng lọc, tỏi được lựa chọn để nghiên cứu sâu hơn.
Lựa chọn này không bất ngờ. Tỏi từ lâu đã được biết đến với các hợp chất có hoạt tính kháng khuẩn. Vấn đề khó hơn là nguồn nguyên liệu tự nhiên có thể biến động theo giống, mùa vụ, điều kiện canh tác và bảo quản. Nếu muốn phát triển một chế phẩm có chất lượng đồng đều, chỉ dựa vào củ tỏi thu hoạch ngoài đồng sẽ đặt ra bài toán kiểm soát nguyên liệu.
Công nghệ nuôi cấy rễ tơ được nhóm nghiên cứu sử dụng để giải quyết phần nào bài toán đó. Rễ tơ không đơn giản là rễ tỏi được đem vào phòng thí nghiệm. Loại rễ này hình thành sau khi mô thực vật được xử lý bằng vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes. Một phần vật liệu di truyền của vi khuẩn được chuyển vào tế bào cây, khiến mô rễ phát triển với hình thái và đặc tính sinh trưởng khác rễ thông thường.
Công nghệ rễ tơ đã được nghiên cứu ở nhiều loài thực vật nhằm tạo sinh khối và các hợp chất thứ cấp. Tuy nhiên, tỏi là cây một lá mầm, nhóm thực vật thường khó cảm ứng tạo rễ tơ hơn cây hai lá mầm. Vì vậy, phần đáng chú ý trong công trình của nhóm TS Vũ Thị Bạch Phượng nằm ở việc điều chỉnh quy trình cho một đối tượng vốn không thuận lợi.
Từ tỷ lệ 64,4% đến 100%
Trong công bố năm 2023, nhóm nghiên cứu sử dụng mầm tỏi nuôi cấy in vitro 10 ngày tuổi. Mẫu được xử lý bằng acetosyringone nồng độ 100 micromol trong 10 phút, cho tiếp xúc với A. rhizogenes ATCC 15834 trong 5 phút, đồng nuôi cấy 48 giờ rồi chuyển sang môi trường B5. Quy trình khi ấy đạt tỷ lệ cảm ứng tạo rễ tơ 64,4% sau 14 ngày.
Dịch chiết từ rễ tơ được thử trên ba chủng Vibrio. Kết quả cho thấy tỷ lệ giữa nồng độ diệt khuẩn tối thiểu và nồng độ ức chế tối thiểu không quá 2 – chỉ dấu cho thấy tác dụng diệt khuẩn trong điều kiện thử nghiệm. Riêng với V. cholerae, nhóm công bố nồng độ ức chế tối thiểu là 1,84 mg/ml và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu là 2,11 mg/ml; hoạt tính được đánh giá tương đương tetracycline đối với chủng vi khuẩn này.
Hai năm sau, quy trình tiếp tục được cải tiến. Thay vì cắt bỏ nhiều mô hoặc gây tổn thương mạnh, nhóm giữ lại hệ rễ, phần đế thân và mô tép tỏi phía trong. Khi kết hợp với acetosyringone, hai nghiệm thức giữ nguyên hệ rễ đạt tỷ lệ hình thành rễ 100% sau ba tuần. Nghiệm thức không tạo vết thương cho sinh khối tươi cao nhất, trung bình 1,00 ± 0,02 g trên mỗi mẫu cảm ứng.
Phân tích PCR phát hiện các gene rolB và rolC trong rễ được tạo thành, giúp xác nhận quá trình chuyển vật liệu di truyền đã diễn ra. Việc không phát hiện gene virG sau xử lý cũng cho thấy vi khuẩn dùng để chuyển gene đã được loại bỏ khỏi mẫu.
Công bố năm 2025 có sáu tác giả. TS Vũ Thị Bạch Phượng đứng tên đầu; PGS.TS Quách Ngô Diễm Phương là tác giả liên hệ. Chi tiết này cho thấy kết quả là sản phẩm của một tập thể nghiên cứu, không phải thành tựu đơn lẻ của một cá nhân.
Giống như hướng chỉnh sửa gene để tăng sức chống bệnh cho đậu tương, nghiên cứu rễ tơ tỏi tập trung vào một mắt xích nền tảng: tạo được vật liệu sinh học ổn định trước khi nghĩ đến một sản phẩm ứng dụng.
Kháng khuẩn tốt chưa đồng nghĩa đã có chế phẩm
Các kết quả trong phòng thí nghiệm tạo ra cơ sở đáng chú ý, nhưng chưa đủ để gọi rễ tơ tỏi là thuốc hay chế phẩm phòng bệnh cho tôm.
Trước hết, bệnh hoại tử gan tụy cấp tính, thường viết tắt là AHPND, liên quan đến các chủng vi khuẩn mang gene độc tố pirAB. Công bố kháng khuẩn năm 2023 không cho biết chủng V. parahaemolyticus được thử có mang hệ gene độc lực gây AHPND hay không. Vì vậy, khả năng ức chế chủng vi khuẩn này chưa thể tự động chuyển thành kết luận rằng rễ tơ có thể phòng hoặc điều trị AHPND.
Bệnh phân trắng còn phức tạp hơn. Các nghiên cứu quốc tế hiện xem đây là hội chứng đa yếu tố, có thể liên quan đồng thời đến Vibrio, sự mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột và ký sinh trùng Enterocytozoon hepatopenaei. Một tác nhân kháng Vibrio vì thế mới giải quyết được một phần của bài toán.
Thông tin nghiệm thu của nhà trường cho biết rễ tơ tỏi cho kết quả tốt khi thử nghiệm phòng bệnh trên tôm thẻ. Tuy nhiên, phần thông tin được công khai chưa cung cấp thiết kế thử nghiệm, số lượng tôm, liều sử dụng, tỷ lệ sống, mức độ giảm tải khuẩn hay kết quả phân tích thống kê.
Đây là những dữ liệu cần có trước khi đánh giá quy mô hiệu quả thực sự. Cách thận trọng nhất hiện nay là xem kết quả trên tôm như bằng chứng bước đầu, chưa phải xác nhận về hiệu quả trong ao nuôi thương mại.
Trong lĩnh vực thủy sản, khoảng cách từ một phép thử kháng khuẩn đến sản phẩm sử dụng ngoài thực địa khá xa. Nguyên liệu còn phải được xác định thành phần hoạt chất, độ ổn định, độc tính, liều dùng và khả năng tương tác với thức ăn, nước ao cũng như hệ vi sinh. Bài toán chi phí sản xuất sinh khối ở quy mô lớn cũng chưa được trả lời.
Những nghiên cứu như vải cotton dò chất màu trên tôm hay công nghệ BioRAS trong nuôi tôm độ mặn thấp đều cho thấy một giải pháp cho ngành tôm phải đi qua nhiều tầng kiểm chứng, từ nguyên lý khoa học đến điều kiện vận hành thực tế.
NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐI ĐẾN ĐÂU?
Đã có: Quy trình cảm ứng rễ tơ tỏi; tỷ lệ hình thành rễ đạt 100% ở điều kiện tối ưu; xác nhận gene chuyển; thử hoạt tính trên ba chủng Vibrio; bằng chứng bước đầu từ thử nghiệm trên tôm được nêu trong báo cáo nghiệm thu.
Còn thiếu trong hồ sơ công khai: Chuẩn hóa hoạt chất; đánh giá an toàn và liều dùng; xác nhận hiệu quả trên chủng gây AHPND mang gene pirAB; dữ liệu đầy đủ về thử nghiệm trên tôm; thử nghiệm nhiều vụ nuôi, nhiều địa điểm; phân tích giá thành và thủ tục pháp lý cho sản phẩm.
Giá trị trước mắt nằm ở nguồn nguyên liệu ổn định
Nếu chỉ nhìn vào khả năng kháng khuẩn của tỏi, nghiên cứu này có thể bị hiểu thành một lần nữa chứng minh điều đã quen thuộc. Nhưng đóng góp đáng chú ý hơn nằm ở quy trình tạo sinh khối.
![]() |
| Toàn cảnh phiên nghiệm thu đề tài do TS Vũ Thị Bạch Phượng làm chủ nhiệm tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM, ngày 14/1/2026. Ảnh: Nhà trường. |
Từ tỷ lệ cảm ứng 64,4%, nhóm nghiên cứu đã điều chỉnh vị trí mô, mức độ gây tổn thương và điều kiện xử lý để đạt tỷ lệ hình thành rễ 100%. Kết quả gợi mở khả năng xây dựng một nguồn nguyên liệu được tạo ra trong điều kiện kiểm soát, giảm phụ thuộc vào mùa vụ và chất lượng củ tỏi ngoài thị trường.
Khả năng ấy vẫn cần được kiểm tra khi chuyển từ lọ nuôi cấy sang hệ thống tạo sinh khối lớn hơn. Rễ có giữ được hoạt tính qua nhiều chu kỳ hay không, hoạt chất biến động thế nào, chi phí trên mỗi kilogram nguyên liệu là bao nhiêu – đó sẽ là những câu hỏi quyết định hướng nghiên cứu có đi được đến sản phẩm hay không.
Công trình của TS Vũ Thị Bạch Phượng và các cộng sự vì thế nên được nhìn nhận đúng ở giai đoạn hiện tại: họ đã tạo được một nền tảng sinh học có tiềm năng, cùng các bằng chứng kháng khuẩn ban đầu. Phần khó tiếp theo là chứng minh nền tảng ấy an toàn, hiệu quả và khả thi trong điều kiện nuôi tôm thực tế.



















NCS Bùi Phương Thảo tìm cách tăng sức chống bệnh cho đậu tương
TS. Tôn Nữ Quỳnh Trang dùng vải cotton dò chất màu trên tôm
Công nghệ BioRAS và nỗ lực lấp khoảng trống nghiên cứu trong nuôi tôm độ mặn thấp
Cùng chuyên mục
Cấp bằng độc quyền quy trình tổng hợp hạt nano selen từ lá vối
Từ đất rừng Côn Đảo, hai loài mới được khoa học gọi tên
Dạy máy hiểu tiếng Việt để người Việt làm chủ công nghệ
NCS Dương Thị Hồng Nhung khởi nghiệp từ bài toán chọn liều thuốc
Nuôi rễ tỏi để tìm cách phòng bệnh cho tôm
Xét nghiệm máu tìm đột biến liên quan tiến triển ung thư vú