![]() |
| TS Nguyễn Thị Thu Anh thu mẫu tại Vườn Quốc gia Côn Đảo trong quá trình thực hiện nghiên cứu về đa dạng động vật chân khớp ở đất. Ảnh: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. |
Ngày Quốc khánh 2/9 thường đưa câu chuyện đất nước trở về những dấu mốc lớn. Nhưng một quốc gia còn được nhận biết qua những việc rất nhỏ: biết trong cánh rừng của mình có những sinh vật nào, chúng khác phần còn lại của thế giới ra sao, và có đủ dữ liệu để bảo vệ chúng trước khi môi trường sống thay đổi. Ở Côn Đảo, một trong những lớp tri thức ấy nằm ngay dưới thảm lá rừng.
Trong đề tài VAST04.06/21-22 do TS Nguyễn Thị Thu Anh làm chủ nhiệm, nhóm nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật khảo sát các nhóm động vật chân khớp sống trong đất tại Vườn Quốc gia Côn Đảo. Hồ sơ nhiệm vụ được Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cập nhật năm 2026 ghi nhận 58 loài Collembola thuộc 42 giống, 14 họ, 4 bộ cùng nhiều loài thuộc các nhóm nhiều chân và hình nhện. Hai loài trong số các mẫu nghiên cứu được mô tả là loài mới cho khoa học: rết Otostigmus consonensis và nhện dẹt Weygoldtia condao.
Một cái tên Côn Đảo trong danh pháp khoa học
Weygoldtia condao không phải cách gọi mang tính truyền thông. “condao” là tên khoa học chính thức của loài.
Bài báo gốc của Nguyễn Thị Thu Anh và Phùng Thị Hồng Lương, công bố trên Academia Journal of Biology năm 2022, ghi rõ tên loài được đặt theo Vườn Quốc gia Côn Đảo, nơi các mẫu chuẩn được tìm thấy. Hệ thống ITIS hiện ghi nhận Weygoldtia condao Nguyen and Phung, 2022 là một đơn vị phân loại hợp lệ.
Dữ liệu bài báo cũng cho thấy vai trò thực địa của nữ khoa học Việt Nam không dừng ở việc đứng tên công bố. Mẫu chuẩn đực của Weygoldtia condao được Nguyễn Thị Thu Anh thu trên đường tới bãi Ông Đụng vào tháng 10/2020; những mẫu khác của loài cũng do bà thu tại khu vực này năm 2019 và 2020.
Để xác định đây thực sự là một loài khác, nhóm không chỉ dựa vào hình dáng. Các tác giả so sánh đặc điểm hình thái với loài gần nhất Weygoldtia davidovi, đồng thời phân tích đoạn gen COI. Khoảng cách di truyền K2P giữa hai loài đạt 20%; phân tích phát sinh chủng loại cũng ủng hộ việc tách Weygoldtia condao thành loài mới.
![]() |
| Weygoldtia condao Nguyen & Phung, 2022, loài nhện dẹt được mô tả từ các mẫu thu tại Côn Đảo. Tên loài được đặt theo Vườn Quốc gia Côn Đảo. Ảnh: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Nguồn ảnh: Ảnh Weygoldtia condao trên VAST |
Loài thứ hai cũng mang địa danh nơi nó được tìm thấy. Bài báo trên Zootaxa giải thích Otostigmus consonensis được đặt tên theo đảo Côn Sơn, đảo lớn nhất của quần đảo Côn Đảo, nơi bộ mẫu chuẩn được thu. Nghiên cứu sử dụng cả hình thái, khoảng cách di truyền COI và phân tích phát sinh để hỗ trợ việc xác lập loài mới.
Nhưng ở đây cần tách rõ phần việc của từng tác giả. Công bố về Weygoldtia condao có hai tác giả Nguyễn Thị Thu Anh và Phùng Thị Hồng Lương, trong đó Nguyễn Thị Thu Anh là tác giả liên hệ. Với Otostigmus consonensis, bà là một trong năm đồng tác giả cùng Hà T. Vũ, Katsuyuki Eguchi, Sơn X. Lê và Anh D. Nguyễn. Vì vậy, hai phát hiện là kết quả của những nhóm nghiên cứu chứ không phải thành tựu riêng của một cá nhân.
Rừng tự nhiên giữ nhiều dấu vết nhất
Điều đáng chú ý của đề tài không nằm riêng ở hai loài mới. Khi so sánh ba sinh cảnh, nhóm ghi nhận 50 loài Collembola ở rừng tự nhiên, 20 loài trong đất vườn quanh nhà và chỉ 7 loài ở rừng thông ven biển. Với nhóm động vật nhiều chân và hình nhện, số loài ghi nhận lần lượt là 18, 13 và 8 ở rừng tự nhiên, rừng thông và vườn quanh nhà.
![]() |
| Số loài Collembola ghi nhận tại ba sinh cảnh nghiên cứu ở Côn Đảo: rừng tự nhiên 50 loài, đất vườn quanh nhà 20 loài, rừng thông ven biển 7 loài. Đồ họa: Phụ Nữ Mới; dữ liệu VAST. |
Những con số không cho phép kết luận đơn giản rằng cứ có nhiều loài hơn thì sinh cảnh chắc chắn “tốt hơn”, bởi thành phần quần xã còn chịu ảnh hưởng của nhiều điều kiện sinh thái và thiết kế lấy mẫu. Nhưng sự khác biệt lớn giữa ba nơi cho thấy vì sao khảo sát ở quy mô sinh cảnh là cần thiết: bảo tồn không thể chỉ dựa vào một danh sách tên loài chung cho cả hòn đảo.
Ở nhiều vùng khác của Việt Nam, lớp dữ liệu này cũng đang được bổ sung. Các nghiên cứu về 121 loài phiêu sinh giúp đọc sức khỏe thủy vực Đồng Nai, các ghi nhận hai loài dơi mới tại Đồng bằng sông Cửu Long hay nhiều loài ong mới tại dãy Trường Sơn đều cho thấy một công việc nền tảng: trước khi đánh giá sự thay đổi của hệ sinh thái, phải biết chính xác cái gì đang tồn tại ở dãy Trường Sơn.
Từ một mẫu vật đến dữ liệu có thể dùng lâu dài
Một mẫu động vật được thu trong rừng sẽ có giá trị hạn chế nếu thông tin chỉ dừng ở chiếc lọ lưu mẫu. Nhóm của Nguyễn Thị Thu Anh đã giải trình tự và đưa 36 trình tự đoạn gen ty thể của một số loài chân khớp Côn Đảo lên GenBank. Hồ sơ đề tài coi đây là một trong những sản phẩm khoa học cụ thể bên cạnh các công bố quốc tế và trong nước.
Việc đưa dữ liệu lên ngân hàng gen tạo ra một tầng giá trị khác: mẫu vật ở Côn Đảo có thể được các nghiên cứu sau này đối chiếu với quần thể ở đất liền hoặc những khu vực khác. Khi môi trường biến đổi, dữ liệu nền hôm nay cũng trở thành mốc để nhận ra một quần thể đã thay đổi, một loài đang thu hẹp phân bố hay một nhóm sinh vật trước đây bị bỏ sót.
Nhóm nghiên cứu đề xuất tiếp tục khảo sát tính đa dạng và đặc hữu của động vật chân khớp tại Côn Đảo, hoàn thiện mô tả những mẫu còn ở dạng nghi ngờ và xem xét sử dụng các động vật chân khớp nhỏ như chỉ thị sinh học để đánh giá môi trường đất. Kết quả đề tài cũng được chuyển cho Vườn Quốc gia Côn Đảo làm tài liệu khoa học phục vụ bảo tồn và phát triển.
Đây là điểm cần giữ tỉnh táo: nghiên cứu chưa chứng minh rằng những dữ liệu này đã trực tiếp tạo ra một chính sách bảo tồn mới hay đã làm thay đổi quản lý du lịch ở Côn Đảo. Giá trị đã được xác lập ở thời điểm hiện tại là cung cấp dữ liệu khoa học, mô tả loài, dữ liệu di truyền và cơ sở tham khảo; hiệu quả quản lý thực tế còn phụ thuộc vào các bước tiếp theo.
Hiểu đất nước cũng là một dạng gìn giữ
Ngày 2/9, nói về tình yêu đất nước rất dễ rơi vào những khái niệm rộng. Công việc của những nhà phân loại học lại đi theo hướng ngược lại: cúi xuống lớp đất rừng, thu từng mẫu nhỏ, đo những cấu trúc rất khó nhìn thấy, đọc một đoạn ADN rồi mất nhiều tháng để chứng minh sinh vật trước mặt có thực sự khác với những loài đã biết hay không.
Có những kết quả nghe tưởng nhỏ. Một tên loài mới. Một chuỗi gen mới trên GenBank. Một con số về số loài trong một sinh cảnh.
Nhưng bản đồ khoa học của một quốc gia được tạo ra chính từ những mảnh dữ liệu như vậy.
Weygoldtia condao mang Côn Đảo trong tên khoa học. Otostigmus consonensis giữ dấu Côn Sơn trong danh pháp. Phía sau hai cái tên ấy là công việc của Nguyễn Thị Thu Anh cùng nhiều cộng sự Việt Nam và quốc tế, từ thực địa đến phân tích hình thái và di truyền.
Một đất nước được gìn giữ không chỉ bằng việc biết đường biên của mình ở đâu. Cũng cần biết trong những cánh rừng, vùng biển và lớp đất của mình đang tồn tại những gì — trước khi chúng biến mất mà khoa học chưa kịp gọi tên.
Những con số từ lớp đất Côn Đảo
- 58 loài Collembola, thuộc 42 giống, 14 họ, 4 bộ được thống kê trong đề tài.
- 2 loài mới cho khoa học được mô tả: Otostigmus consonensis và Weygoldtia condao.
- 1 loài rết được ghi nhận mới cho khu hệ Việt Nam: Otostigmus sulcipes.
- 36 trình tự gen ty thể của một số loài chân khớp được lưu trên GenBank.
- 50 – 20 – 7 loài Collembola lần lượt ghi nhận ở rừng tự nhiên, đất vườn quanh nhà và rừng thông ven biển.




















121 loài phiêu sinh giúp đọc sức khỏe các thủy vực Đồng Nai
Việt Nam phát hiện hai loài dơi mới tại Đồng bằng sông Cửu Long
Việt Nam ghi nhận nhiều loài ong mới tại dãy Trường Sơn
Nhà khoa học nữ đi tìm lời giải cho ô nhiễm vi nhựa trong môi trường nước
Cùng chuyên mục
Cấp bằng độc quyền quy trình tổng hợp hạt nano selen từ lá vối
Từ đất rừng Côn Đảo, hai loài mới được khoa học gọi tên
Dạy máy hiểu tiếng Việt để người Việt làm chủ công nghệ
NCS Dương Thị Hồng Nhung khởi nghiệp từ bài toán chọn liều thuốc
Nuôi rễ tỏi để tìm cách phòng bệnh cho tôm
Xét nghiệm máu tìm đột biến liên quan tiến triển ung thư vú