![]() |
| GS.TS Vũ Thị Thu Hà, Phó Viện trưởng Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam, Giám đốc Phòng Thí nghiệm trọng điểm Lọc - Hóa dầu |
Tại Hội thảo Kết nối công nghệ - Women in Tech sáng 11/8, GS.TS Vũ Thị Thu Hà, Phó Viện trưởng Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam, Giám đốc Phòng Thí nghiệm trọng điểm Lọc - Hóa dầu, chia sẻ hai câu chuyện về nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ. Theo GS.TS Vũ Thị Thu Hà, khoảng cách từ một kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đến sản phẩm có thể sản xuất, kinh doanh còn lớn và không phải dự án nào cũng có thể triển khai theo đúng kế hoạch ban đầu.
Một trong những ví dụ là quá trình phát triển biodiesel từ dầu ăn đã qua sử dụng. Khoảng một năm trước, trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 57, đơn vị của bà được một nhà máy lọc dầu lựa chọn là đối tác đầu tiên để ký thỏa thuận hợp tác toàn diện. Ban đầu, hai bên dự kiến phát triển phụ gia tiết kiệm nhiên liệu và giảm phát thải, có thể pha trộn tại nguồn.
Tuy nhiên, trong quá trình trao đổi, doanh nghiệp nhận thấy nhóm nghiên cứu đã có công nghệ sản xuất biodiesel được phát triển trong khoảng 20 năm. Hai bên sau đó chuyển trọng tâm sang hoàn thiện công nghệ này. Khoảng 65 người của hai bên cùng tham gia dự án theo mô hình đồng phát triển, phối hợp hoàn thiện công nghệ trong khoảng sáu tháng trước khi tiếp tục gia hạn để triển khai các công việc tiếp theo.
Kết quả là biodiesel được sản xuất từ dầu ăn đã qua sử dụng. Theo GS.TS Vũ Thị Thu Hà, một dấu mốc quan trọng của quá trình này là lô B5 đầu tiên tại Việt Nam được sản xuất bằng công nghệ do người Việt nghiên cứu và phát triển.
![]() |
Theo bà, để đi đến kết quả này, nhóm nghiên cứu đã trải qua nhiều năm thực hiện các đề tài ở nhiều cấp độ khác nhau. Dù từng chủ nhiệm nhiều đề tài cấp Nhà nước, nhóm cuối cùng vẫn cần một đề tài cấp cơ sở để hoàn thiện sản phẩm và đưa công nghệ đến gần hơn với sản xuất.
"Muốn ra thị trường, doanh nghiệp phải sẵn sàng đồng hành để tiếp quản những kết quả mà nhà khoa học đã lăn lộn bao nhiêu năm", GS.TS Vũ Thị Thu Hà nói.
Từ kết quả hợp tác, doanh nghiệp đang xem xét khả năng triển khai dự án sản xuất biodiesel với công suất khoảng 30.000 tấn/năm, hướng tới phối trộn thành nhiên liệu B5.
Cùng với biodiesel, nhóm nghiên cứu của GS.TS Vũ Thị Thu Hà còn phát triển hai dòng phụ gia tiết kiệm năng lượng dành cho nhiên liệu rắn và nhiên liệu lỏng. Các thử nghiệm cho thấy trong một số điều kiện, việc sử dụng phụ gia có thể giúp giảm mức tiêu thụ nhiên liệu khoảng 8-10%. Khi lượng nhiên liệu cần đốt giảm, lượng CO2 phát sinh cũng giảm theo.
Công nghệ đã được nghiên cứu từ phòng thí nghiệm đến thử nghiệm thực tế, trong đó có kiểm chứng tại Nhà máy Xi măng Tân Thắng. Kết quả cho thấy hiệu quả trong tiết kiệm năng lượng và giảm chi phí sử dụng than. Các công trình liên quan đã được đăng ký sở hữu trí tuệ và được cấp bằng sáng chế tại Việt Nam và Mỹ.
Trong các thử nghiệm gần đây với nhà máy lọc dầu, dữ liệu thu thập từ hệ thống giám sát trên các phương tiện thử nghiệm cho thấy việc sử dụng phụ gia giúp quá trình cháy ổn định hơn, đồng thời mức tiêu thụ nhiên liệu giảm đáng kể.
Tuy nhiên, GS.TS Vũ Thị Thu Hà cho rằng hoàn thiện công nghệ mới chỉ là một phần của quá trình thương mại hóa. Để sản phẩm được sử dụng rộng rãi, các quy định liên quan đến việc pha trộn tại nguồn đối với phụ gia mới cũng cần được hoàn thiện. Doanh nghiệp hiện phối hợp với nhóm nghiên cứu để thúc đẩy việc triển khai các quy định này.
Nếu được áp dụng trên diện rộng, công nghệ có thể tác động đồng thời đến chi phí nhiên liệu, mức tiêu thụ năng lượng và phát thải.
![]() |
| GS.TS Vũ Thị Thu Hà chia sẻ tại Hội thảo Kết nối công nghệ - Women in Tech |
Câu chuyện thứ hai được GS.TS Vũ Thị Thu Hà chia sẻ là công nghệ chiết dầu từ quả bơ, bắt đầu từ một dự án phải dừng giữa chừng trong thời kỳ Covid-19.
Nhóm nghiên cứu từng đăng ký một dự án với Bộ Khoa học và Công nghệ, trong đó doanh nghiệp dự kiến đối ứng khoảng 30 tỷ đồng để hoàn thiện công nghệ. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của đại dịch, doanh nghiệp không thể thực hiện phần kinh phí đối ứng, khiến dự án phải dừng khi chưa hoàn thành toàn bộ kế hoạch.
Nhóm nghiên cứu sau đó hoàn trả gần 1 tỷ đồng kinh phí đã được tạm ứng nhưng chưa thể thực hiện theo kế hoạch. Dù dự án dừng, nhóm vẫn tiếp tục phát triển công nghệ.
Sau quá trình nghiên cứu, nhóm đã hoàn thiện một chuỗi công nghệ chiết dầu từ các loại quả có thịt chứa dầu, trong đó có quả bơ. Công nghệ sử dụng phương pháp ép lạnh, không cần sấy nguyên liệu trước khi chiết. Quả bơ được đưa trực tiếp vào hệ thống và thu được dầu bơ nguyên chất ở đầu ra.
Theo GS.TS Vũ Thị Thu Hà, công nghệ này có thể tiếp tục phát triển để áp dụng với một số loại cây có dầu khác.
Hiện một doanh nghiệp đã lựa chọn công nghệ để triển khai dự án tại một địa phương, nhưng chưa công bố địa điểm cụ thể. Dự án dự kiến phát triển chuỗi giá trị từ cây nông nghiệp công nghiệp với tổng mức đầu tư khoảng 500 tỷ đồng, trong đó riêng dự án dầu bơ được dự kiến đầu tư khoảng 120 tỷ đồng.
Với GS.TS Vũ Thị Thu Hà, đây là trường hợp cho thấy một dự án không thành công ở khâu hợp tác hoặc nguồn lực tài chính không đồng nghĩa với việc kết quả nghiên cứu mất đi giá trị. Nếu tiếp tục hoàn thiện công nghệ và tìm được doanh nghiệp phù hợp, kết quả nghiên cứu vẫn có thể được đưa vào sản xuất.
"Nếu chúng ta đi đến cùng, tất cả công sức bỏ ra từ trong phòng thí nghiệm sẽ không bị phung phí, không bị dừng lại ở đó", bà nói.
![]() |
Từ hai câu chuyện, nữ nhà khoa học cho rằng khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và thị trường vẫn là một trong những trở ngại lớn đối với nghiên cứu ứng dụng. Một công nghệ dù đã được kiểm chứng về mặt khoa học vẫn cần doanh nghiệp tham gia để hoàn thiện quy trình, đầu tư thiết bị, tổ chức sản xuất và đưa sản phẩm đến người sử dụng. Ngược lại, doanh nghiệp cũng cần đánh giá khả năng ứng dụng và hiệu quả kinh tế trước khi quyết định đầu tư.
Quá trình thương mại hóa còn phụ thuộc vào nguồn vốn, khung pháp lý, đối tác và thời điểm thị trường. Một công nghệ dù có tiềm năng nhưng xuất hiện không đúng thời điểm hoặc thiếu điều kiện triển khai cũng khó đi đến sản xuất.
"Công nghệ thì không thể tự đi đến thị trường được mà cần đúng đối tác và đúng thời điểm", GS.TS Vũ Thị Thu Hà nhấn mạnh.
Theo bà, để thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà đầu tư, Nhà nước và thị trường. Doanh nghiệp không chỉ là bên tiếp nhận kết quả cuối cùng mà cần tham gia sớm hơn vào quá trình hoàn thiện công nghệ, giúp xác định nhu cầu thực tế và khả năng sản xuất.
![]() |
Hai câu chuyện về biodiesel và dầu bơ cho thấy những con đường khác nhau để một kết quả nghiên cứu đi đến thị trường. Với biodiesel, doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình đồng phát triển, giúp rút ngắn thời gian hoàn thiện công nghệ và tạo ra sản phẩm. Với công nghệ chiết dầu bơ, dự án ban đầu phải dừng vì thiếu nguồn lực đối ứng, nhưng việc tiếp tục nghiên cứu sau đó đã giúp công nghệ tìm được cơ hội mới.
Theo GS.TS Vũ Thị Thu Hà, giá trị của một công trình nghiên cứu không chỉ nằm ở kết quả trong phòng thí nghiệm mà còn ở khả năng tìm được con đường phù hợp để chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế - xã hội.
























GS.TS Vũ Thị Thu Hà: “Tôi hạnh phúc khi chứng kiến một ý tưởng khoa học hình thành từ phòng thí nghiệm được ứng dụng trong thực tiễn”
Hội Sáng chế Việt Nam lần đầu vinh danh “Hiệp sĩ sáng chế”: Dấu ấn GS.TS Vũ Thị Thu Hà trong hai bảng xếp hạng sáng chế
GS.TS Vũ Thị Thu Hà giới thiệu giải pháp tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải đột phá
GS.TS Vũ Thị Thu Hà: " Nhà khoa học gặp ma trận khó khăn"
GS.TS Vũ Thị Thu Hà đam mê tạo ra những sáng chế hữu ích phục vụ cộng đồng
Cùng chuyên mục
GS.TS Vũ Thị Thu Hà và bài toán đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường
Bình đẳng giới chỉ thực chất khi phụ nữ có cơ hội bình đẳng để phát triển và cống hiến
Để phản biện của nữ trí thức không dừng lại ở hội trường
TS. Trương Thị Thu Trang trước bài toán bản quyền của AI
Nữ trí thức nghệ thuật trước thách thức của kỷ nguyên số
TS. Lê Thị Mai Liên: Sau hai “ca làm việc”, ai chăm sóc tinh thần phụ nữ?