![]() |
PHI LỘ: Cần gì để trở thành nhà văn?
Tôi muốn trở thành nhà văn, nhà viết kịch, tôi cần gì?Thiên khiếu? Thời gian? Trái tim lãng mạn? Tâm hồn ưu thời mẫn thế? Chỗ ngồi viết thơ mộng? Cảm hứng? Deadline?
Lần theo trước tác về nghề viết của các nhà văn, như Stephen King (Về việc viết), Haruki Murakami (Tôi nói gì khi nói về chạy bộ), Nguyễn Công Hoan (Đời viết văn của tôi), Tô Hoài (Sổ tay viết văn), Rainer Maria Rilke (Thư gửi người thi sĩ trẻ) hay cơ man tiểu luận về viết, ta thấy một từ lặp đi lặp lại: kỷ luật. Lời khuyên của các nhà văn đã thành danh cho thế hệ sau thường đơn giản đến không ngờ. Nếu bạn muốn trở thành người viết, tất cả những gì bạn cần là... viết.
Viết đi rồi viết lại.
Honoré de Balzac làm việc từ nửa đêm đến trưa ngày hôm sau, viết đều đặn trong hai mươi năm để có hơn chín mươi tác phẩm trong bộ Tấn trò đời. Émile Zola treo phía trên bàn viết câu thần chú “Nulla dies sine linea” (không ngày nào không ít nhất một dòng) và giữ kỷ luật ấy suốt hai mươi tập Rougon-Macquart.
Graham Greene (Người Mỹ trầm lặng) mỗi sáng viết đúng 500 chữ rồi dừng, kể cả khi đang dở câu. Stephen King cam kết mỗi ngày ít nhất 2.000 chữ, kể cả sinh nhật hay ngày lễ.
“Ông già và biển cả” Ernest Hemingway đứng viết từ rạng sáng đến trưa, ghi số chữ mỗi ngày lên tấm bìa dán tường để theo dõi kỷ luật và tiến độ.
Đến đây bạn sẽ nói: ừ thì họ là người viết chuyên nghiệp, còn tôi phải mưu sinh, chỉ viết thì làm sao sống nổi. Vậy thì mời bạn gặp những người sau.
Anthony Trollope làm công chức Bưu điện Anh ba mươi ba năm, là người đề xuất đưa thùng thư trụ đỏ vào nước Anh; ông thức dậy từ năm rưỡi sáng, ép mình viết 250 chữ mỗi mười lăm phút, trong ba giờ liền trước khi đến sở, và để lại cho đời 47 tiểu thuyết. Franz Kafka nhận lương của sở bảo hiểm tai nạn lao động ở Praha suốt mười bốn năm, và chỉ viết vào ban đêm. Anton Chekhov là bác sĩ, nổi tiếng với câu nói y học là vợ chính thức còn văn chương là tình nhân. Cũng làm bác sĩ như Chekhov còn có Sir Arthur Conan Doyle hay William Carlos Williams, tranh thủ viết khi phòng khám vắng khách.
Bram Stoker là quản lý nhà hát Lyceum ở London gần ba mươi năm, Lewis Carroll dạy toán ở Oxford, T. S. Eliot làm ngân hàng...
Bạn lại nói: ừ, thì họ có việc làm ổn định, hẳn gia đình cũng khá giả nên sẽ có một bàn viết đẹp, view nhìn ra khu vườn hay dòng sông, còn tôi chỉ có một căn phòng thuê chật hẹp. Không bạn ơi, Raymond Carver làm gác đêm bệnh viện, cưa gỗ, giao hàng... để mưu sinh; làm gác đêm, ông dọn xong trong giờ đầu rồi viết hết ca còn lại, và viết truyện ngắn vì chỉ có thời gian cho truyện ngắn. Rất nhiều người vẫn viết ra được kiệt tác trong tình trạng chủ nợ bủa vây, vợ kêu con khóc, như Mario Puzo lúc viết Bố Già. Cổ Long có lúc chỉ cần viết được một hai trang đã vội vã bán ngay để có tiền trả nợ hoặc mua rượu.
Với các nhà văn nữ, thời gian ấy thường phải giành giật từ một ngày đã bị chiếm hết. Agatha Christie làm ở phòng pha chế thuốc của bệnh viện trong Thế chiến thứ nhất, chỗ nào có bàn vừa đủ kê máy đánh chữ lập tức trở thành chỗ viết, để lại cho đời sáu mươi sáu tiểu thuyết trinh thám. Thấy Harper Lee bận tối ngày với chân bán vé cho một hãng hàng không mà lại quá yêu nghề viết, Giáng sinh 1956 bạn bè tặng bà đúng một năm lương để nghỉ việc, tập trung vào viết.
Alice Munro viết trong giờ con ngủ trưa, giữa việc nhà và cửa hàng sách của chồng, không thể viết tiểu thuyết mà chỉ có thể viết truyện ngắn, và nhận Nobel bằng chính truyện ngắn. Octavia Butler dậy lúc hai, ba giờ sáng để viết trước khi những người khác trong nhà thức dậy, và để lại một câu mà mọi người viết cần khắc cốt ghi tâm: quên cảm hứng đi, thói quen đáng tin hơn.
Sức khỏe kém cũng không phải là cái cớ. Nguyễn Đình Chiểu viết Lục Vân Tiên khi đã mù, thầy giáo - nhà văn Nguyễn Ngọc Ký viết bằng chân, Christy Brown cả đời chỉ điều khiển được bàn chân trái, viết chữ đầu tiên bằng viên phấn kẹp ở chân, vẫn làm nhà thơ, nhà văn và để lại cho đời cuốn hồi ký sau đó được chuyển thể thành phim bất hủ, My Left Foot. Marcel Proust bệnh hen nặng, Robert Louis Stevenson bị lao, Hàn Mặc Tử bị phong...
Malcolm Gladwell trong Những kẻ xuất chúng (2008) đã cho chúng ta nguyên tắc mười nghìn giờ. Luận điểm của ông là người xuất chúng không phải do thiên bẩm mà đơn giản là đã tích đủ giờ làm cùng một việc. Xuất chúng không phải là phẩm chất, mà là quá trình tích lũy về lượng. Mà lượng thì ai cũng làm được. Bạn viết đâu cũng được, lúc nào cũng được, viết bằng gì cũng được. Tất cả những gì bạn cần là... viết.
Viết đi rồi viết lại.
Đó là lý do loạt bài này tồn tại. Nếu thiên bẩm không phải là yếu tố quyết định một tay viết giỏi mà là kỷ luật, thì chúng ta cùng thử tìm hiểu xem các nhà văn lớn đã giữ kỷ luật ra sao, hành trình người viết của họ trải qua những chặng nào. Hy vọng loạt bài này có thể trao một chút động lực cho người đang viết lẫn người muốn viết nhưng còn chần chừ chưa dám bước vào hành trình.
Xin được khởi đầu loạt bài bằng Kim Dung, người vừa giỗ lần thứ tám hôm 30 tháng 10 vừa qua. Ông để lại cho hậu thế 15 bộ tiểu thuyết, là bậc thầy của dòng tiểu thuyết võ hiệp và tất nhiên cũng là một bậc thầy về kỷ luật, với 17 năm liên tục cho ra ít nhất 1.000 chữ mỗi ngày.
BÀI 1: KIM DUNG, KỶ LUẬT MINH CHỦ
Kim Dung không bắt đầu hành trình như một tiểu thuyết gia. Ông bắt đầu là một nhà báo, rồi một biên tập viên.
Năm 1947, Tra Lương Dung vào Đại Công Báo (Thượng Hải) làm biên tập tin quốc tế. Năm 1948 ông sang Hồng Kông, vào làm tại Tân Văn Báo. Việc của ông là viết phê bình phim, dịch các phóng sự dài kỳ. Làm việc cùng ông là người đàn anh Trần Văn Thống, người rồi sẽ ký bút danh Lương Vũ Sinh.
Năm 1954, trận tỉ võ giữa hai võ sư phái Thái Cực và Bạch Hạc ở Macau gây sốt dư luận. Tổng biên tập Tân Văn Báo La Phu nhân sự kiện ấy đặt hàng Trần Văn Thống viết thành truyện dài kỳ. Ông đặt bút viết Long hổ đấu kinh hoa và dùng bút hiệu Lương Vũ Sinh. Báo bán chạy không ngờ và tạo ra một nhu cầu nơi độc giả.
Đầu năm 1955, La Phu quay sang đặt hàng tay bút trẻ hơn của mình. Ngày 8/2/1955, Thư kiếm ân cừu lục ra kỳ đầu dưới một bút danh mới: Kim Dung (chữ Dung trong tên ông tách đôi thành Kim 金 và Dung 庸). Truyện chạy mỗi ngày một kỳ, đến tháng 9 năm 1956 thì dừng lại ở kỳ thứ 574.
![]() |
Kim Dung đã khởi đầu hành trình nhà văn của mình mà không có bất kỳ một sự tính toán nào. Sau này ông thừa nhận: viết bộ đầu không biết có bộ thứ hai không; viết xong bộ thứ hai thì chưa biết bộ thứ ba sẽ chọn đề tài gì.¹ Câu đối “Phi tuyết liên thiên xạ bạch lộc, Tiếu thư thần hiệp ỷ bích uyên” do chính ông ghép từ chữ đầu 14 tựa sách, và ông tự nhận nó không chỉnh về đối lẫn thanh. Bởi vì 15 bộ sách là kết quả của 17 năm làm việc không ngơi nghỉ và không tính toán quá tỉ mỉ, viết như nước chảy mây trôi, tới đâu hay tới đó, hoàn toàn không phải một tổng thể được hình dung trước.
Cách viết mỗi ngày một kỳ, hay còn gọi là feuilleton, đã có ở châu Âu từ trước. Kim Dung chỉ kế thừa một việc mà Alexandre Dumas đã làm hơn một thế kỷ trước đó. Nói là không hề lên kế hoạch, nhưng tay nghề viết feuilleton, trước khi đặt bút viết chữ đầu tiên trong Thư kiếm, đã được trui rèn suốt tám năm làm báo. Viết đúng số chữ, đúng giờ, viết sao cho biên tập viên không gạt nó đi để đăng bài người khác, viết sao cho độc giả viết thư khen ngợi thay vì phàn nàn đã là phản xạ làm việc hàng ngày của Tra Lương Dung, trước khi trở thành tác gia Kim Dung.
![]() |
Viết feuilleton như thế nào?
Đơn vị làm việc của Kim Dung là một đoạn khoảng 1.000-1.200 chữ, không cần biết anh viết đi viết lại bao nhiêu lần, hút bao nhiêu điếu thuốc, đi tới đi lui bao nhiêu vòng, gạch bỏ bao nhiêu chữ, ném bao nhiêu giấy vào sọt rác. Đúng giờ phải có kỳ mới để hôm sau xuất hiện trên báo. Lộc Đỉnh ký, bộ cuối cùng, được viết liên tục trong 2 năm 11 tháng. Đám cưới hay đám ma, đám giỗ hay sinh nhật, cảm cúm hay tai nạn đều phải có đủ chữ để đăng, chứ đừng nói là không có hứng.
Nhà báo Đỗ Nam Phát của Tân Minh nhật báo từng chứng kiến Kim Dung viết Tiếu ngạo giang hồ ở Singapore năm 1967. Ông kể Kim Dung thường đến tòa soạn đầu giờ chiều, đọc báo, ngồi vào bàn tổng biên tập xử lý vài giấy tờ, hút một điếu thuốc rồi viết. Mỗi ngày dùng đúng ba tờ giấy nháp, đều như vắt tranh, để ra được 1.200 chữ. Khi tới giờ in báo, thợ sắp chữ đứng trước cửa, Kim Dung xong tờ nào là họ mang đi xếp luôn. Viết xong là dừng, không viết thêm, không nhân tiện viết gối đầu cho hôm sau.²
![]() |
Nhưng đó là tốc độ viết, không phải là tốc độ suy nghĩ. Với các nhà văn, viết chỉ là cái đến sau cùng, sau một quá trình đọc, quan sát, nghiền ngẫm và đọc nhiều hơn. Mọi nhà văn đều... nhiều chuyện, họ phải tò mò trước những câu chuyện độc đáo, có cách kể mới lạ. Kim Dung mất khoảng hai tiếng cho 1.000-1.200 chữ, chậm so với giới viết feuilleton đương thời (chính ông tự nhận mình viết chậm, từng chữ từng câu đều cân nhắc),³ nhưng hai tiếng ấy là kết quả của một quá trình tích lũy tỉ mỉ trước đó. Là một người ham đọc, ham học, kỹ năng phỏng vấn ngày một thành thục do quá trình làm báo lâu dài, khi viết, các kiến thức về nông nghiệp, y học, võ thuật, văn chương, bói toán, kỳ pháp, thư pháp... cứ thế trở lại để phục vụ cho các tình huống và nhân vật một cách tự nhiên trôi chảy, chứ không phải tới khi động tới vấn đề gì rồi mới đi tìm hiểu. Ông không có thời gian cho việc ấy.
Năm 1973, ông khẳng định mình lập dàn ý câu chuyện trước rồi mới đặt bút, vì nếu nghĩ đến đâu viết đến đó thì sẽ có những sơ hở không vá được. Nghĩ lâu, viết nhanh, nộp đúng giờ và đúng khổ, đó là tác phong của một nhà báo.⁴
Bản thảo của ông được giới làm báo khâm phục vì nó đi thẳng từ bàn viết đến bàn sắp chữ, không cần chép lại hay biên tập. Cái giá của việc này là bản thảo gốc giai đoạn 1950-1970 gần như không còn. Thợ sắp chữ đã cắt bản thảo thành từng khúc nhỏ mà họ gọi đùa là “lòng non”, xếp chữ xong thì giấy đã nhàu tới mức chỉ còn có thể bỏ đi.⁵
Vì độc giả đón chờ diễn tiến câu chuyện từng ngày nên Kim Dung hầu như không có ngày nghỉ. Khi Minh Báo, tờ báo do ông đồng sáng lập (cùng Thẩm Bảo Tân) và tự viết xã luận, ra số đầu tiên (1959), Thần điêu hiệp lữ mở màn ngay trang nhất, trong khi Tuyết sơn phi hổ vẫn đang chạy ở Tân Văn Báo. Tức là lúc đó ông phải chạy hai kỳ mỗi ngày, hôm nào nghỉ thì phải có “lời giải thích của tòa soạn”. Giai đoạn về sau, khi vừa viết truyện cho báo vừa viết thêm một truyện cho tạp chí Võ hiệp dữ lịch sử để kéo thêm số in cho Minh Báo, ông gọi là chuyện “phá thiên hoang”, tức là chưa từng có với mình.⁶
Cái giữ người đọc, vì thế, không hẳn là cái móc câu “hồi sau sẽ rõ” ở cuối mỗi kỳ, mà là cái dàn ý ông đã có sẵn trong đầu. Người đọc báo thấy một câu chuyện hấp dẫn diễn ra liên tục; người viết thấy một câu chuyện được viết trả góp thành từng kỳ.
![]() |
Thầy của bậc thầy
Kim Dung không có thầy dạy viết cụ thể. Lương Vũ Sinh đi trước một bước, làm cùng một tòa soạn, nhưng đó là đàn anh nhiều hơn thầy. Nguồn học của ông là sách và màn ảnh. Trước hết là:
Dumas và tiểu thuyết đăng báo châu Âu. Kim Dung công khai thừa nhận trong các nhà văn trong và ngoài nước, ông thích Alexandre Dumas nhất, thích từ khi còn trẻ tới khi đã đứng tuổi. Ba người lính ngự lâm là cuốn ảnh hưởng lớn nhất, thậm chí là cảm hứng để ông viết truyện võ hiệp. Ở triển lãm Kim Dung quán (Hồng Kông), hậu thế ghi nhận ông lấy cảm hứng từ thần thoại Hy Lạp, Bá tước Monte Cristo và kịch Shakespeare. Đáng nhớ là Dumas cũng là nhà văn feuilleton: Ba người lính ngự lâm chạy trên tờ Le Siècle từ năm 1844. Kim Dung không chỉ học một cách kể, mà học cả kỷ luật trên mặt báo của tiền bối.⁷
Truyền thống võ hiệp và chương hồi. Trong một cuộc phỏng vấn cuối đời, chính ông vẽ phả hệ: từ truyền kỳ đời Đường (Cẩu nhiêm khách, Hồng Tuyến, Nhiếp Ẩn Nương, Côn Lôn nô) đến Thủy hử, Tam hiệp ngũ nghĩa, Nhi nữ anh hùng truyện. Từ tiểu học ông đã đọc Hoang giang nữ hiệp của Cố Minh Đạo và truyện của Bình Giang Bất Tiếu Sinh. Khi viết Vi Tiểu Bảo, ông thừa nhận đã học bút pháp của Lỗ Tấn viết A Q: tả rất kỹ một kiểu người mà không hề cổ vũ kiểu người đó.⁸
Điện ảnh. Trước khi lập Minh Báo, ông có thời gian viết kịch bản cho hãng Trường Thành. Kịch bản đầu tay Tuyệt đại giai nhân viết mùa hè 1952, phim chiếu 1953; các kịch bản sau ký bút danh Lâm Hoan. Ở Trường Thành, kịch bản phải qua nhiều vòng họp, duyệt, chỉnh sửa nên gần như là sáng tác tập thể. Đóng góp được ghi nhận của ông là giảm các tình huống thuyết giáo, tăng kỹ thuật kể, dựng nhân vật chính tà kỹ hơn, và xây xung đột theo nhịp. Đó là trường học về cấu trúc mà một người viết tiểu thuyết chương hồi hiếm khi có.⁹
Viết đi 17 năm, viết lại 17 năm
Viết liên tục như thế, tiến bộ là chuyện hết sức tự nhiên. Sau khi một bộ truyện kết thúc ở kỳ cuối cùng, Kim Dung mới đọc lại toàn bộ để rút kinh nghiệm cho bộ tiếp theo. Ông tự đánh giá mình càng viết càng đạt, bộ dài hay hơn bộ ngắn, bộ sau sâu hơn bộ trước. Rất nhiều độc giả đồng tình với nhận xét ấy.
Ông cũng thừa nhận những bản đăng báo chưa hoàn mỹ, vì phải vừa viết truyện vừa viết xã luận, vừa điều hành cả một tòa soạn, thời gian luôn là vấn đề lớn. Chưa kể những năm 1960-1970, ông phải dành nhiều thời gian theo dõi tình hình chính trị để viết xã luận, nên có những kỳ viết vội.¹⁰
Nói một cách hơi bất công với những người đọc báo thời ấy, bản đăng báo chính là "draft 1"; sau đó Kim Dung dành rất nhiều thời gian và tâm sức để tự biên tập truyện của mình. Khởi đầu từ năm 1970, ông vừa viết truyện vừa dành thời gian tu sửa các truyện đã viết. Đến khi Lộc Đỉnh ký kết thúc năm 1972, ông tuyên bố gác bút và dành mười năm sửa toàn bộ, từng chữ từng câu. Bản sửa đăng lại trước trên Minh Báo văn báo, rồi Minh Hà xã in thành Kim Dung tác phẩm tập, 15 bộ 36 tập, hoàn tất năm 1980. Đây là bản phần lớn độc giả Việt Nam biết.
Mức độ sửa rất lớn. Xạ điêu anh hùng truyện bản báo có nhân vật Tần Nam Cẩm là mẹ Dương Quá, bản sửa gộp vào Mục Niệm Từ, bỏ hẳn nhiều tình tiết, thêm tình tiết mới. Nhà văn Nghê Khuông đọc xong bản sửa bảo tưởng mình mất trí nhớ.¹¹
![]() |
Đến năm 1999, ở tuổi 75, ông sửa một lần cuối, kéo dài bảy năm, cho in dần từ 2003. Lúc này ông nói chỉ sửa những chỗ vô lý (như tuổi Hoàng Dung so với Quách Tĩnh), nhưng biên tập viên của nhà xuất bản Viễn Lưu kể là “càng sửa càng lớn”, đụng vào cả những chỗ độc giả đã quen thuộc và yêu mến, nên độc giả lâu năm của ông phản ứng không ít. Nhưng phải thừa nhận Kim Dung là một người rất nghiêm túc và tận tụy với những đứa con tinh thần của mình. Biên tập tiểu thuyết là một việc vất vả: nhân vật và tình tiết có quan hệ nhân quả, đan xen phức tạp, sửa một chỗ là động tới đại thể. Chính ông ví mình với Tào Tuyết Cẩn ngày trước mất tận mười năm mới sửa xong Hồng Lâu Mộng.
![]() |
Lần sửa thứ ba của Kim Dung, theo thiển kiến người viết bài này, có lẽ không phải để tác phẩm hay hơn. Nó giống như một người gặp lại những đứa con mà mình đứt ruột sinh ra, hối tiếc những năm tháng đầu đời không có thời gian săn sóc, nên khi về già thảnh thơi hơn lại nảy sinh cảm giác muốn bù đắp. Nhưng đứa con ấy vốn đã trưởng thành và có đời sống riêng. Đó là lý do tác giả bị phản ứng khi biên tập lại chính truyện của mình.
Thậm chí khi Kim Dung, vì bị hỏi quá nhiều mà buộc phải trả lời là ai giỏi võ hơn ai trong các nhân vật của mình, câu trả lời của ông cũng bị phản ứng. Người viết hạ bút là xong, phần sáng tạo tiếp theo là của độc giả. Nhưng dầu có những tranh cãi về những nhân vật do chính tác giả tạo ra, không ai có thể phủ nhận Kim Dung rất yêu các nhân vật của mình. Ông bảo khi sửa tới đoạn Tiêu Phong, ông vẫn khóc như lần đầu viết.
![]() |
Kim Dung là một cây bút tự trọng. Không chỉ không lặp lại chủ đề, ông còn thay đổi cả lối viết đã quen thuộc với độc giả, một sự dũng cảm mà hiếm cây bút thành danh nào dám làm. Lộc Đỉnh ký đã không còn là một tiểu thuyết võ hiệp, vì nó ít võ và cũng ít hiệp. Nhưng tác phẩm đó thực sự là đỉnh cao của một người viết, là phát tiết tinh hoa của mấy chục năm làm báo: đọc mỗi kỳ cứ như đọc phóng sự dài kỳ, không chỉ đuổi theo tình tiết mà còn nhìn thấy tận cốt lõi của căn tính Trung Hoa. Viết về căn tính dân tộc mà thoát khỏi cảnh bị đưa lên giàn hỏa, đó cũng là cái tài của Minh Chủ Võ Lâm.
Cái vĩ đại của Minh Chủ, tức ông chủ Minh Báo, còn nằm ở chỗ biết rửa tay ngay khi ở đỉnh cao. Sau khi viết Lộc Đỉnh ký, ông trầm mặc suốt một thời gian xem mình nên viết gì tiếp theo. Nhưng với tất cả tấm lòng tôn trọng độc giả và chính mình, ông phong bút.
![]() |
Có bao nhiêu trợ lý?
Truyện của Kim Dung có một kho tàng kiến thức ngồn ngộn, đa ngành đa nghề, nên suốt một thời gian dài độc giả có thuyết âm mưu là ông có một đội ngũ trợ lý hùng hậu. Nhưng đến tận hôm nay, chưa có một “trợ lý” nào ra mặt và tuyên bố mình từng làm việc với Kim Dung. Mười lăm bộ sách là văn viết tay của một người, mỗi ngày một đoạn, gò mình vào kỷ luật vì nếu không viết thì uy tín bản thân và tờ báo sụp đổ. Duy chỉ có một ngoại lệ khi Kim Dung nhờ người khác viết thay.
Ngoại lệ ấy là Nghê Khuông. Năm 1965, giữa lúc Thiên long bát bộ đang chạy trên Minh Báo, Kim Dung đi châu Âu một thời gian (có nguồn nói một tháng, có nguồn nói hai tháng). Không còn cách nào khác, ông nhờ Nghê Khuông viết thay, với một lời dặn: tuyệt đối không được giết nhân vật nào. Nghê Khuông ghét nhân vật A Tử. Kim Dung lên máy bay buổi sáng, chiều hôm đó A Tử bị viết cho mù. Nghê Khuông viết thay khoảng bốn vạn chữ, khiến cho mọi toan tính của Kim Dung cho cô em gái của A Châu tan tành mây khói. Và chính chỗ này cho thấy tài của ông: cái tai nạn người khác gây ra được ông biến thành một trong những đoạn hay nhất của mình. Ông cho nhân vật Du Thản Chi trao đôi mắt lại cho A Tử. Đoạn A Tử ôm xác tỷ phu nhảy xuống vực thẳm, trước khi nhảy còn móc đôi mắt ra ném trả lại cho Du Thản Chi, có lẽ là một trong những cảnh bi ai nhất mà lịch sử tiểu thuyết từng chứng kiến. Nhưng từ sau đó Kim Dung không dám nhờ ai viết thay nữa. Nghê Khuông vì thế là tiểu thuyết gia duy nhất từng viết thay Kim Dung.
![]() |
Về phần biên tập, trong giai đoạn sửa lần cuối 1999-2006, nhà xuất bản Viễn Lưu (Đài Loan) hỗ trợ ông gom và sắp xếp ý kiến độc giả các nơi để ông sửa từng chỗ, nhưng quyết định sửa gì vẫn là của ông.¹²
Kỷ luật: một ngày của người vừa làm chủ bút vừa viết truyện
Kỷ luật của Kim Dung là kỷ luật của người làm báo ngày, một người đã xếp lịch đời mình vào lịch in báo. Giai đoạn 1959-1962, ba năm Minh Báo còn chật vật, có lúc ông chạy hai truyện cùng lúc và tự viết xã luận, chưa kể phải đọc bài và biên tập cho các phóng viên khác. Người đương thời gọi ông là “máy viết”. Nghê Khuông nói Minh Báo không sập là nhờ tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung. Chính Kim Dung cũng không giấu đắc ý, rằng tờ báo nhỏ của mình chỉ nửa năm đã cân bằng thu chi.¹³
Cuối thập niên 1960, buổi tối của ông được đồng nghiệp tả khá kỹ: khoảng mười, mười một giờ đêm ông quay lại tòa soạn, thư ký đã về, công nhân bưng lên chén trà, ông đọc điện tín, tin địa phương, thỉnh thoảng đọc thêm vài trang sách, thường phải đợi quản đốc xếp chữ gõ cửa giục mới đặt bút. Xã luận viết hai tờ giấy; viết xong tờ đầu, xếp chữ lấy ngay, muốn xem lại cũng không kịp. Ông rời tòa soạn khoảng hai giờ sáng, công nhân thường phải nán lại vì ông. Trong 33 năm, ông viết hơn 7.000 bài xã luận, thập niên 1960-1970 gần như ngày nào cũng một bài, ít khi để người khác chấp bút, đi xa cũng viết ký sự gửi về.¹⁴
![]() |
Tiểu thuyết là một phần của lịch làm việc đó. Mười bảy năm, mười lăm bộ, gần như không ngắt quãng: Thần điêu vừa xong đã chạy Ỷ thiên; hôm trước Ỷ thiên kết thúc, hôm sau Thiên long bắt đầu; giữa chừng còn Phi hồ ngoại truyện, Uyên ương đao, Bạch mã khiếu tây phong, Liên thành quyết. Sau Thiên long, ông nghỉ hai tuần, lần đầu, rồi quay lại với Hiệp khách hành; sau Tiếu ngạo nghỉ mười hai ngày rồi Lộc Đỉnh ký. Cộng các kỳ nghỉ, ốm, và tháng Nghê Khuông viết thay, tổng thời gian ông ngừng viết truyện trong 17 năm được ước tính không đủ sáu tháng.
Giờ giấc đó theo ông đến khi về hưu. Ông kể làm báo phải xem bản in thử, thường bốn giờ sáng mới ngủ; đến già vẫn không đổi được thói quen, vợ cũng thức theo, đi du lịch thường không dự nổi chương trình buổi sáng vì đồng hồ sinh học quen tới trưa mới dậy. Khi được hỏi bí quyết làm Minh Báo thành đại báo, ông nói không có bí quyết, chỉ là nỗ lực và nỗ lực không ngừng: một số báo kém chất lượng là tuột lại trong cuộc cạnh tranh khốc liệt. Về cách làm việc, ông nói làm việc gì cũng dốc toàn lực, có mười phần sức thì tuyệt không dùng chín.¹⁵
![]() |
Rồi ông cũng dừng. Năm 1994 ở Bắc Đại, có người hỏi vì sao gác bút, ông trả lời viết tiểu thuyết rất vất vả và đau khổ.¹⁶ Vì luôn phải viết trong tình trạng có việc khác kéo đi, luôn tìm cách để không lặp lại chính mình, luôn chìm trong nhân vật và buồn đau cùng nhân vật, lúc tức giận đập bàn, lúc buồn bã sa lệ. Nhưng hạnh phúc đi kèm thì không lời văn nào có thể diễn tả được. Minh Báo đã không còn là của ông, những bài xã luận, vốn là nội dung chính trong khi feuilleton chỉ là món bán kèm, theo thời gian cũng chẳng mấy ai nhớ. Nhưng những Quách Tĩnh, Dương Quá, Lệnh Hồ Xung, Trương Vô Kỵ, Triệu Mẫn, Ân Tố Tố, Hoàng Dung... đã sống lâu hơn tác giả, đã trở thành một phần quan trọng trong văn hóa Trung Hoa, năm nào cũng có đoàn phim làm lại, các diễn viên mong Kim Dung sẽ thành bệ phóng để họ có thể trở thành Lưu Đức Hoa, Lương Triều Vỹ, Lý Nhược Đồng... mới.
Kim Dung hoàn toàn không trông chờ điều đó. Ông ví tiểu thuyết là việc “vô tâm cắm liễu”, là phần thưởng mà ông không ngờ tới.¹⁷
Ông chỉ biết mỗi ngày 1.000-1.200 chữ.
Viết đi rồi viết lại.
![]() |
Những bài học cụ thể
- Dàn ý trước rồi mới viết.
- Viết đúng khổ, mỗi ngày đúng chừng ấy chữ thì dừng để còn cảm hứng hôm sau viết tiếp, không viết tích trữ.
- Tách thành hai công đoạn rõ ràng: viết đi (để đăng báo) và viết lại (để tu bổ, in thành sách). Tức đừng quá cầu toàn.
- Mỗi bộ thử một đề tài mới, một cách kể mới để đẩy giới hạn bản thân đi xa.
- Phải có áp lực thời gian, hãy tìm người thợ sắp chữ cho riêng mình.
- Hãy yêu mọi nhân vật như yêu chính mình, hãy khóc như khi Kim Dung sửa lại Thiên long bát bộ và gặp lại Tiêu Phong.
Chú thích & Nguồn tham khảo
¹ Kim Dung trả lời Tống Nguyên (phỏng vấn 2000-2003, đăng lại trên Trung Quốc tác gia võng, 2018).² Hồi ức của Đỗ Nam Phát, dẫn trong "Kim Dung đích biện báo chiêu thức", HK01, 2018.³ "Tốc độ viết của tôi thực ra rất chậm, từng chữ từng câu đều cân nhắc, một nghìn chữ thường sửa đi sửa lại, ít nhất hai giờ." Dẫn trong "Kim Dung: kính ủy văn tự đích tiểu thuyết gia", Quang Minh nhật báo, 8/3/2025.⁴ Phát biểu tháng 4/1973 về việc lập đại cương trước khi viết, dẫn trong bài Quang Minh nhật báo nói trên.⁵ Bản thảo đi thẳng ra bàn sắp chữ: “Kim Dung, lánh nhất chỉ bút tả thời bình", Hoàn cầu nhân vật (Nhân Dân nhật báo), 16/10/2014; chuyện "lòng non": "Báo nhân Kim Dung", Văn Hối báo, 1/11/2018.⁶ Hai truyện cùng lúc năm 1959 và “lời giải thích của tòa soạn": "Báo nhân Kim Dung", Văn Hối báo, nguồn như trên; "Cùng lúc viết hai truyện dài kỳ, với tôi đã là chuyện phá thiên hoang": lời Kim Dung dẫn trong bài Quang Minh nhật báo nói trên; Thẩm Bảo Tân đồng sáng lập: The News Lens, 2018.⁷ Kim Dung: "Trong các nhà văn trong ngoài nước, tôi thích Dumas nhất, từ 12-13 tuổi đến nay không đổi"; "Ba người lính ngự lâm ảnh hưởng cực lớn đến đời tôi, tôi viết võ hiệp có thể nói là được cuốn này gợi ý." Dẫn tại Nhân gian phúc báo. Ghi nhận về Pygmalion, Monte Cristo, Shakespeare tại Kim Dung quán: yilinwang.com.⁸ Phả hệ võ hiệp và việc học bút pháp Lỗ Tấn: Kim Dung trả lời Tống Nguyên, nguồn như trên.⁹ "Hồi cố Kim Dung điện ảnh tuế nguyệt, tòng thủ cả kịch bản Tuyệt đại giai nhân thuyết khởi", HK01, 2024.¹⁰ Kim Dung trả lời Tống Nguyên về lý do sửa: viết trong lúc làm báo, bị thời sự đại lục thập niên 1960-1970 cắt ngang. Nguồn như trên.¹¹ Tần Nam Cẩm gộp vào Mục Niệm Từ, các đoạn bị xóa và thêm, lời Nghê Khuông trong Tứ khán Kim Dung tiểu thuyết: Viễn Kiến, 2018.¹² Viễn Kiến, 2018, nguồn như trên.¹³ Danh xưng “máy viết” và câu “tờ báo nhỏ, nửa năm đã cân bằng thu chi”: “Võ hiệp chỉ ngoại đích Kim Dung", zhuanlan.zhihu.com; lời Nghê Khuông về Minh Báo: The News Lens, 2018, nguồn như trên.¹⁴ Lịch đêm ở tòa soạn và hơn 7.000 bài xã luận trong 33 năm: "Báo nhân Kim Dung", Văn Hối báo, nguồn như trên.¹⁵ Lịch ngủ bốn giờ sáng, chuyện “nỗ lực không ngừng” và “có mười phần sức, tuyệt không dùng chín": Kim Dung trả lời Tống Nguyên.¹⁶ Hỏi đáp tại Đại học Bắc Kinh năm 1994, dịp ông nhận học vị giáo sư danh dự, dẫn trong bài Quang Minh nhật báo, 2025, nguồn như trên. Chuyện khóc khi viết Dương Quá, Tiêu Phong, Chung A Tử: Kim Dung trả lời Tống Nguyên.¹⁷ “Thực ra ban đầu tỉ trọng không lớn, việc chính của tôi là làm báo... đây là vô tâm cắm liễu." Trả lời sinh viên Bắc Đại 1994, dẫn trong bài Quang Minh nhật báo nói trên.

































Một ngôi làng Việt Nam ẩn giữa rừng thông, nhà dựng trên cây và vừa lọt đề cử du lịch danh giá thế giới
Nam ca sĩ U45 quê Hà Nội sang Mỹ khoe làm nông dân, vợ cũ Đàm Vĩnh Hưng viết đúng 3 chữ
Tân Hoa hậu Việt Nam 2026 lên tiếng trước những bình luận chê kém sắc
Mối quan hệ giữa Quách Ngọc Ngoan và Á hậu 1 Hoa hậu Việt Nam
Triết lý phụng sự Nhật Bản: Hành trang của những người “sưởi ấm” tuổi vàng tại Phương Đông Asahi
Triết học khắc kỷ cho kẻ thất tình: Có những thứ thuộc về ta, có những thứ vĩnh viễn không
Cùng chuyên mục
Kim Dung và hành trình viết 17 năm không nghỉ: Từ 1.000 chữ mỗi ngày cho đến 3 lần đại tu kiệt tác
Người đàn ông trúng độc đắc 1.054 tỷ đồng NGAY LẦN ĐẦU MUA XỔ SỐ
Mỹ nhân chứng kiến 2 khoảnh khắc quan trọng nhất của Sơn Tùng M-TP: Không phải Hải Tú!
Đình Bắc đi xe máy "thoát pressing"
Mỹ nam sinh ra với 99% khả năng tử vong, làm diễn viên để lưu giữ sự sống
Tuần mới 9/11 - 15/11 của 12 cung hoàng đạo nhí: Bạch Dương nhí có dịp trổ tài, bạn nhỏ Cự Giải dễ làm lành với bạn thân