Từ cơ hội tiếp cận nguồn lực nghiên cứu đến việc đưa kết quả ra thị trường, khoảng cách giới cần được nhìn nhận bằng dữ liệu và giải pháp ở cấp độ hệ thống.
Từ phòng thí nghiệm đến quyền dẫn dắt nghiên cứu
Trong phòng thí nghiệm nghiên cứu hệ gen lúa, PGS.TS Tô Thị Mai Hương cùng cộng sự tìm cách giải mã những đặc tính di truyền có thể giúp cây lúa chống chịu hạn, mặn và giảm phát thải khí nhà kính. Nhóm nghiên cứu khai thác dữ liệu hệ gen của gần 200 giống lúa bản địa, hướng tới ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen để phát triển các giống lúa thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.
PGS.TS Tô Thị Mai Hương là giảng viên, nhà nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH), đồng thời tham gia Phòng thí nghiệm quốc tế liên kết về hệ gen lúa Việt Nam – Pháp. Năm 2025, bà nhận học bổng nghiên cứu quốc gia thuộc chương trình L’Oréal – UNESCO Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học.
Trong cuộc phỏng vấn do Văn phòng UNESCO tại Hà Nội thực hiện, đăng ngày 11/2/2026, bà chia sẻ rằng có những thí nghiệm ở Việt Nam mất hàng tháng, thậm chí một năm, trong khi ở nước ngoài chỉ cần vài tuần. Hóa chất và vật tư nghiên cứu mất nhiều thời gian để nhập về; các phân tích hệ gen, phiên mã và hormone phải thực hiện ở nước ngoài, kéo theo chi phí và rủi ro.
“Điều giúp tôi vượt qua những thời điểm đó không phải là sự kiên cường đơn độc, mà là sự đồng hành”, bà nói, nhắc đến sự hỗ trợ của đồng nghiệp và cộng sự trong nước, quốc tế.
Câu chuyện của PGS.TS Tô Thị Mai Hương cho thấy sự nghiệp khoa học không chỉ phụ thuộc vào năng lực cá nhân. Khả năng tiếp cận thiết bị, kinh phí, mạng lưới hợp tác và một đội ngũ nghiên cứu đủ mạnh có thể quyết định tốc độ cũng như phạm vi phát triển của công trình.
Khoảng cách nằm ở đâu?
Theo thông tin được công bố tại hội thảo quốc tế “Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế xanh và kinh tế số”, do Hội Nữ trí thức Việt Nam phối hợp với Cơ quan Liên Hợp Quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) tổ chức ngày 10/6/2026 tại Hà Nội, phụ nữ chiếm 46% lực lượng nghiên cứu và phát triển của Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ làm chủ nhiệm các nhiệm vụ khoa học và công nghệ chỉ đạt 25,5%. Tỷ lệ phụ nữ được cấp bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và giống cây trồng dao động từ 13% đến 20%.
Những con số này cho thấy khoảng cách đáng chú ý giữa sự tham gia vào hoạt động nghiên cứu và khả năng dẫn dắt nhiệm vụ khoa học, tạo ra tài sản trí tuệ. Tuy nhiên, chúng chưa đủ để kết luận phụ nữ bị loại khỏi từng nấc thang nghề nghiệp, từ tuyển dụng, nhận tài trợ đến thăng tiến học thuật. Muốn xác định chính xác điểm nghẽn, cần có dữ liệu theo giới về hồ sơ dự tuyển, tỷ lệ trúng tuyển, quy mô kinh phí, vị trí tác giả trong công bố và cơ cấu lãnh đạo ở từng cơ sở nghiên cứu.
Ở bình diện toàn cầu, dữ liệu của Viện Thống kê UNESCO (UIS), công bố ngày 2/10/2026 và cập nhật ngày 5/10/2026, cho biết phụ nữ chiếm 31,4% tổng số nhà nghiên cứu năm 2023, tăng từ 29,5% năm 2013. Tỷ lệ này thấp hơn đáng kể so với tỷ trọng nữ trong số người theo học đại học và sau đại học trên toàn cầu. UNESCO cũng ghi nhận phụ nữ chỉ chiếm khoảng 19% thành viên các viện hàn lâm khoa học quốc gia trên thế giới.
Dữ liệu toàn cầu không thể thay thế số liệu của Việt Nam, nhưng cho thấy cần xem xét sự đại diện của phụ nữ ở nhiều giai đoạn và vị trí khác nhau, thay vì chỉ nhìn vào số lượng người tham gia nghiên cứu.
Gánh nặng chăm sóc và những gián đoạn khó nhìn thấy
Trong nghiên cứu khoa học, thời gian có ý nghĩa đặc biệt. Một thí nghiệm có thể phải tiến hành liên tục, một bộ dữ liệu cần được xử lý trong nhiều tuần, còn cơ hội hợp tác quốc tế có thể phụ thuộc vào khả năng tham dự hội thảo hoặc làm việc dài ngày. Những gián đoạn trong lịch làm việc có thể ảnh hưởng đến tiến độ công bố, xây dựng mạng lưới hợp tác và khả năng cạnh tranh khi ứng tuyển vị trí nghiên cứu.
PGS.TS Trần Thị Như Hoa, giảng viên Khoa Khoa học và Công nghệ vật liệu, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM, được bổ nhiệm chức danh phó giáo sư ngày 19/11/2025. Trong bài phỏng vấn đăng trên trang thông tin của trường ngày 8/1/2026, bà kể về giai đoạn phải đồng thời hoàn thành đề tài, viết bài báo quốc tế, hướng dẫn luận văn, điều phối phòng thí nghiệm và chăm sóc gia đình.
Có những đêm bà hoàn thiện bản thảo khoa học trong lúc dỗ con ngủ. Có khi chỉ còn một thí nghiệm cuối cùng nhưng phải tạm dừng vì con bị ốm.
“Không ai có thể cân bằng mọi thứ một cách hoàn hảo”, bà chia sẻ. Theo bà, sự hỗ trợ của gia đình, đặc biệt là việc chồng cùng chia sẻ công việc nhà và thấu hiểu áp lực nghề nghiệp, đã giúp bà tiếp tục theo đuổi nghiên cứu.
Trải nghiệm của PGS.TS Trần Thị Như Hoa không đại diện cho mọi nhà khoa học nữ, nhưng cho thấy trách nhiệm chăm sóc có thể tương tác trực tiếp với yêu cầu của nghề nghiên cứu. Đây không nên được xem là vấn đề riêng của phụ nữ. Cần đối chiếu điều kiện của cả nam và nữ có hoàn cảnh tương đồng, đồng thời xem xét cơ chế hỗ trợ tại nơi làm việc, như thời gian làm việc linh hoạt, dịch vụ chăm sóc trẻ, hỗ trợ trở lại nghiên cứu sau thời gian nghỉ và cách đánh giá thành tích trong giai đoạn có gián đoạn nghề nghiệp.
Báo cáo “Gender diagnostics in support of transforming employment frameworks in Viet Nam”, do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố ngày 7/3/2025, cũng chỉ ra rằng chuẩn mực xã hội và trách nhiệm chăm sóc ảnh hưởng không cân xứng đến khả năng tiếp cận vị trí lãnh đạo và những ngành có tiềm năng tăng trưởng của phụ nữ. Báo cáo đề xuất tăng cường chính sách nhạy cảm giới, mở rộng bảo trợ xã hội, dịch vụ chăm sóc trẻ và môi trường làm việc bao trùm.
Đây là phân tích chung về thị trường lao động, không phải dữ liệu riêng của giới nghiên cứu. Tuy vậy, nó gợi ý những khía cạnh cần được kiểm tra cụ thể tại các viện, trường đại học và đơn vị tài trợ khoa học.
Trong bối cảnh AI ngày càng tham gia sâu vào quá trình sản xuất tri thức, câu hỏi về quyền tiếp cận nguồn lực nghiên cứu còn mở rộng sang khả năng làm chủ dữ liệu, công cụ và công nghệ mới. Những khoảng cách giới trong đào tạo và sự nghiệp khoa học vì thế cần được tiếp tục xem xét khi AI trở thành một yếu tố quan trọng trong nghiên cứu và tuyển dụng.



















Bổ sung dự án sửa đổi Luật Bình đẳng giới vào chương trình lập pháp năm 2026
Tăng mức xử phạt vi phạm bình đẳng giới trong gia đình từ 1/5/2026
Gánh nặng nước sạch và bất bình đẳng giới: 250 triệu giờ mỗi ngày của phụ nữ và trẻ em gái
Tháo gỡ điểm nghẽn để tiến tới bình đẳng giới thực chất
PGS.TS. Trương Thị Hiền: Hướng tới diễn đàn học thuật lan tỏa giá trị nữ trí thức
NGƯT, PGS.TS Nguyễn Thị Thúy Hường: Người gieo những hạt giống tri thức cho tương lai
Cùng chuyên mục
Tạo cơ hội để nữ sinh làm chủ khoa học và công nghệ
Nữ giới chiếm 46% lực lượng nghiên cứu nhưng chỉ 25,5% chủ nhiệm đề tài khoa học
Kỷ nguyên AI mở rộng, vì sao cánh cửa STEM vẫn hẹp với nữ sinh?
Người mẹ nghỉ thai sản dài gấp 8 lần người cha trên toàn cầu
Từ 56% vốn tài trợ đến 1,7% vốn thương mại cho nữ giới
Tháo gỡ gánh nặng chăm sóc, thúc đẩy bình đẳng giới